Bóc trần toàn bộ hoạt động của tổ chức phản động VOICE.

Theo tuyên bố chính thức của VOICE, ban đầu, họ được thành lập như một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp những người vượt biên Việt Nam được cấp quốc tịch ở châu Úc và Bắc. Sau đó, tổ chức này có thêm một hoạt động khác, là cấp vốn và đào tạo nhân sự cho những hội đoàn chính trị đối lập ở Việt Nam.

Ghi lại lịch sử của VOICE là điều không dễ dàng. Khi lần lại thông tin về VOICE, chúng tôi nhận ra nhiều đoạn lịch sử của tổ chức này đã bị họ xóa đi một cách có chủ ý. Chẳng hạn, theo một bản tường trình về đêm văn nghệ gây quỹ của VOICE, tổ chức tại Nam California vào ngày 4 tháng 10 năm 2007, có thể thấy website chính thức của VOICE hiện tại, tức vietnamvoice.org, đã hoạt động từ khoảng thời gian này (1). Tuy nhiên, hiện nay, website này không còn lưu giữ bất cứ nội dung nào về những sự kiện trước năm 2008. Website cũng không còn lưu giữ bất cứ nội dung nào về những sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian 2008 – 2014, ngoại trừ một thông báo tuyển dụng của họ, một thông cáo báo chí trên The Edmonton Journal (2), một bài trên Ottawa Citizen (3), và một thông cáo báo chí của Liên hội Người Việt tại Canada (4). Ba bài báo và thông cáo báo chí vừa kể đều  viết bằng tiếng Anh, để tuyên bố một thành tích hoạt động thiện nguyện của VOICE, và đều xoay quanh những sự kiện trong năm 2008. Như vậy, website này không còn lưu trữ bất cứ thông tin nào về những diễn biến trong năm 2007, và trong giai đoạn 2009 – 2013. Thêm vào đó, cần lưu ý rằng cả bốn văn bản trên đều được đăng trên website vào ngày 16 tháng 3 năm 2014 (ảnh dưới), chứ không phải vào năm 2008, khi sự kiện vừa xảy ra. Như vậy, ta có thể khẳng định rằng năm 2014, VOICE đã tự xóa lịch sử của mình một cách có chủ ý.

Có thể đó không phải là lần duy nhất họ tự xóa lịch sử. Năm 2016, ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Nguyễn Đạm Phong, đã viết một loạt bài điều tra về mối quan hệ giữa VOICE và đảng Việt Tân, cùng sự thiếu minh bạch tài chính của nó. Đáp lại ông Nam Lộc, thành viên VOICE, đã viết ít nhất một bài biện hộ (5). Ông Tú đã phản bác bài biện hộ này, và dựa vào nội dung của nó để chất vấn thêm. Hiện nay, chúng tôi không tìm được bài gốc của ông Nam Lộc ở bất cứ đâu trên Internet, trừ những nơi đăng bài phản bác của ông Tú, rồi đăng nó như mội tài liệu minh họa kèm theo.

Vì lí do trên, khi lần lại lịch sử của VOICE, chúng tôi buộc phải nhặt nhạnh từng mảnh vụn thông tin từ vô số bài báo, bài bút chiến và lời đối thoại trên các diễn đàn. Ngay cả khi ghép những mảnh vụn đó lại với nhau, có lẽ chúng ta cũng chưa có được một bức tranh hoàn chỉnh về quá khứ của tổ chức này, dù nó mới chỉ có mười năm hoạt động.

 

Chú thích:

(1) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst5084_Tuong-trinh-ve-ket-qua-Dem-Van-Nghe-gay-quy-VOICE.aspx

(2) http://vietnamvoice.org/2014/03/vietnamese-families-finally-find-homes/

(3) http://vietnamvoice.org/2014/03/vietnamese-families-given-chance-to-rebuild-their-lives-in-ottawa/

(4) http://vietnamvoice.org/2014/03/project-freedom-at-last/

(5) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

I. Sự ra đời của VOICE

1. Ý nghĩa của tên gọi

Theo lời giới thiệu chính thức trên website của VOICE (1), “VOICE” là chữ viết tắt của “Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment”. Ý nghĩa thật sự của tên gọi này có thể là một vấn đề gây tranh cãi. Một mặt, người đặt tên đã không tuân thủ ngữ pháp tiếng Anh, khi dùng chữ “Vietnamese Overseas”, thay vì cụm từ đúng ngữ pháp là “Overseas Vietnamese”. Mặt khác, khi search cụm từ “Conscience Empowerment” trên công cụ tìm kiếm Google, chúng tôi không nhận được bất cứ kết quả search nào khác, ngoài những kết quả liên quan đến VOICE.

Trong một bài viết trên BBC (2), ông Trịnh Hội (tên đầy đủ là Trịnh Trường Hội), người sáng lập VOICE, cho biết ban đầu VOICE không có tên gọi chính thức bằng tiếng Việt. Sau khi VOICE ra đời, ông Hội đã nhờ một người bạn của mình, là ông Nguyễn Ngọc Bích, dịch cụm từ “Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment” sang tiếng Việt giúp ông. Về lý do chọn ông Nguyễn Ngọc Bích làm người dịch, ông Hội viết trong bài:

“Điều làm cho tôi ấn tượng nhất khi vừa gặp bác là khả năng viết, nói và dịch tiếng Anh của bác. Khó tìm được một người khác ở cùng thế hệ của bác lại có khả năng Anh ngữ chuẩn như bác.

Mà hình như cả gia đình của bác đều giỏi như nhau. Vợ của bác là tiến sĩ Đào Thị Hợi cũng thế. Anh trai của bác nguyên là Tổng Giám Đốc Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Linh vẫn thường xử dụng tiếng Anh khi trao đổi với tôi. Ông từng làm tuỳ viên báo chí và thông dịch cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Một người anh trai khác, ông Nguyễn Ngọc Phách cũng là một học giả, chuyên dịch văn, thơ Việt Nam.

Đấy cũng là lý do tại sao tôi đã nhờ bác dịch hộ cho tôi cái tên ‘VOICE’, viết tắt của 5 chữ ‘Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment’ khi nó được cho ra đời cách đây đúng 10 năm.

Lúc ấy bác đã không hề ngần ngại và cho dịch ra ngay là: Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại.”

Tuy nhiên, vì từ “empowerment” chỉ sự “ủy quyền”, “trao quyền”, và không có ý nghĩa liên quan đến sự “thể hiện”, cách dịch này có lẽ cũng cần bàn thêm.

2. Thời gian thành lập

Theo lời giới thiệu chính thức trên website của VOICE (1), thì tổ chức này hình thành và hoạt động từ năm 1997. Mười năm sau, năm 2007, tổ chức này chính thức đăng ký tại California. Ngoài việc cho biết mục đích hoạt động của VOICE, lời giới thiệu trên website cũng liệt kê những thành tích của tổ chức này trong mười năm hoạt động không chính thức:

Tuy nhiên, lời giới thiệu này có phần không khớp với hai phát biểu khác của chính ông Trịnh Hội. Thứ nhất là bài viết về ông Nguyễn Ngọc Bích nêu trên (2), trong đó ông Hội khẳng định rằng đến năm 2007 VOICE mới được thành lập và đặt tên chính thức. Thứ hai là bài viết “Việt Tân, VOICE và tôi” (3), trong đó một lần nữa, ông Hội tái khẳng định rằng ông “quyết định thành lập VOICE” vào năm 2007. Cũng trong bài này, ông Hội khẳng định rằng trong giai đoạn 1997 – 2007, ông Hội không tham gia tổ chức, mà chỉ “cộng tác” dưới tư cách cá nhân với bốn tổ chức, là Boat People SOS, LAVAS và Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Úc Châu để làm thiện nguyện. Như vậy, những thành tích hoạt động thiện nguyện từ năm 1997 đến năm 2007, mà đoạn giới thiệu trên website của VOICE đã liệt kê, có lẽ thuộc về bốn tổ chức này hơn là VOICE.

3. Các thành viên sáng lập

Theo lời kể của ông Trịnh Hội trong bài “Việt Tân, VOICE và tôi”, trong Hội đồng Quản trị đầu tiên của VOICE, ngoài ông còn có năm thành viên khác. Đó là các ông Đoàn Việt Trung, Hoàng Tứ Duy, Nguyễn Văn Châu và Chu Quang Ngọc và Max Võ. Ông Hội đảm nhận chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Ngoài ra, họ còn mời bà Lisa Nguyễn Thùy Dương, một cộng sự trong các hoạt động thiện nguyện trước đó, làm Giám đốc Điều hành đầu tiên của VOICE. Sự ra đời của VOICE được đánh dấu bằng một buổi tiệc được tổ chức lúc 7 giờ tối ngày 5 Tháng 5 năm 2007 ở quận Arlington, Virginia, nhằm gây quĩ để xây văn phòng của nhóm này ở Campuchia.

Trong suốt quá trình hoạt động của mình, VOICE liên tục bị cáo buộc là một chi nhánh ngầm của đảng Việt Tân, để giúp đảng này tuyển thành viên, đưa người vào Việt Nam, và thâm nhập vào xã hội dân sự để thao túng. Ngoài những liên kết trực tiếp giữa VOICE và Việt Tân về nguồn vốn và hoạt động, các cáo buộc này còn ít nhiều xuất phát từ lí lịch của sáu thành viên chủ chốt đầu tiên. Trừ ông Hội và Max Võ, cả bốn thành viên còn lại đều là thành viên hoặc thân hữu của đảng Việt Tân.

Ông Đoàn Việt Trung, hành nghề kỹ sư, là một trong những người sáng lập Liên hội Ái hữu Việt kiều Tự do vào tháng 12 năm 1977 (5). Sau này, Liên hội đổi tên thành Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu. Ông Trung là thành viên Ban Chấp hành của tổ chức này trong ba nhiệm kỳ, và giữ chức Chủ tịch từ năm 1999 đến năm 2004. Trong cộng đồng người gốc Việt ở Úc, có dư luận cho rằng Cộng đồng Người Việt Tự do là một đoàn thể bị Việt Tân kiểm soát, dựa trên lượng thành viên của đảng Việt Tân nắm những chức vụ quan trọng trong tổ chức này (6). Chẳng hạn, ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong, Phó Chủ tịch phụ trách Ngoại vụ dưới quyền ông Đoàn Việt Trung, cũng là đại diện của đảng Việt Tân tại Sydney vào năm 2006 (7).

Ông Hoàng Tứ Duy tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, tên thường gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, từ năm 1996. Bố ông Duy là ông Hoàng Cơ Định, em trai ông Hoàng Cơ Minh. Năm 2001, ông Duy có tên trong Ban Lãnh đạo Mặt trận này. Năm 2004, Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam đổi tên thành Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng, gọi tắt là đảng Việt Tân. Hiện nay (năm 2017), ông Duy tiếp tục là thành viên Ban Lãnh đạo của đảng Việt Tân, và đang đóng vai trò người phát ngôn của tổ chức này. Bố ông, ông Hoàng Cơ Định, và người quản trị tài chính của Mặt trận cũ từ thập niên 1980, và hiện giữ chức Tổng vụ trưởng Vụ tổ chức Trung ương, Ủy viên thường trực đặc trách Vụ tài chính kiêm Ủy viên Trung ương Đảng, Ban bí thư Trung ương Đảng. Ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch hiện nay của đảng Việt Tân, là con trai bà Hoàng Thị An, chị ruột ông Hoàng Cơ Minh, nên cũng là một thành viên trong gia đình ông Duy.

Theo lời kể của ông Trịnh Hội (3), ông Hội quen ông Hoàng Tứ Duy từ cuối thập niên 1990. Ông Hội nhiều lần đến ở nhà ông Duy, và được ông Duy giới thiệu với hai ông Nguyễn Văn Châu và Chu Quang Ngọc. Cả ông Châu và ông Ngọc đều là cảm tình viên của đảng Việt Tân. Trong khi đó, bà Lisa Nguyễn Thùy Dương từng nhiều lần làm MC trong các sự kiện do đảng Việt Tân tổ chức.

Tuy vậy, trong bài viết vào năm 2016 (3) ông Hội khẳng định rằng cho đến khi về nước vào năm 2007, để rồi “bị các anh công an gọi lên, gọi xuống trong vòng 6 tháng”, ông không hề biết ông Hoàng Tứ Duy tham gia đảng Việt Tân. Tuyên bố này có lẽ không có nhiều trọng lượng, vì ông Hội về nước vào tháng 9 năm 2007. Trong khi đó, ông làm việc với ông Duy trong Hội đồng Quảng trị của VOICE từ tháng 5 năm 2007, và tháng 6 năm 2007, tại quốc hội Mỹ, ông Duy là đại diện của đảng Việt Tân, được mời để đọc báo cáo của đảng về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Cũng trong năm 2007, ông Duy bỏ việc để làm toàn thời gian cho đảng Việt Tân.

Trong bài viết năm 2016, ông Hội cũng khẳng định rằng ông “chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ tổ chức, đảng phái chính trị nào”. Việc Việt Tân kiểm soát VOICE, theo ông, chỉ đến từ sự “thổi phồng, đánh tráo sự thật” của “đảng Cộng sản Việt Nam và những ai đó”.

Theo thông tin đăng tải trên website của VOICE, Trịnh Hội (sinh năm 1970) là một luật sư người Úc gốc Việt, “tốt nghiệp bằng nghệ thuật và luật năm 1995 tại Đại học Melbourne (Úc) và bằng thạc sĩ tại Đại học Oxford (Anh)”. Website của VOICE cũng cho biết ông Hội “nhận giải người trẻ Úc – Việt tiêu biểu năm 1998”, “được công nhận là một trong những luật sư trẻ hàng đầu trong Giải thưởng Luật sư trẻ Australia 1999”, và “vinh dự được trọn rước đuốc cho Olympic Sydney 2000”.

Những tờ báo giải trí trong nước khẳng định rằng ông Hội “thân thiết với vua Bhutan” từ năm 2002, khi hai ông còn là bạn học tại Đại học Oxford (9).

(ảnh 04 và 05 – “Trịnh Hội chụp ảnh với vua Bhutan, ông Jigme Wangchuck, khi còn là bạn học tại Oxford (trên), và trong lễ lên ngôi của ông này (dưới)”)

Đầu thập niên 1990, ông rời Úc sang Hương Cảng, và sau đó là Philippines để hoạt động thiện nguyện. Ở Philippines, ông thành lập một văn phòng trợ giúp pháp lý để hỗ trợ những người Việt Nam vượt biên tới đây tị nạn, nhưng chưa được nước nào cho phép nhập cư. Theo lời kể của ông Hội, thì trong 10 năm, từ 1997 đến 2007, ông “chỉ được phát cho $100/tháng từ quĩ của văn phòng”, do chính ông và bạn bè quyên góp (3). Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy thu nhập từ các hoạt động thiện nguyện của ông Trịnh Hội đã không dừng lại ở con số này. Trong bài viết chất vấn của mình, ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Nguyễn Đặng Phong, đã đưa ra một loạt hồ sơ và hóa đơn để chứng minh rằng từ năm 2005 đến năm 2007, ông Hội đã mua ba căn nhà có tổng trị giá 2,5 triệu USD (10). Bài này cũng đưa ra giả thuyết rằng thu nhập của ông Hội còn đến từ khoản tiền mà ông quyên góp cho các hoạt động thiện nguyện. Cụ thể, chỉ trong hai đợt quyên góp dưới danh xưng LAVAS, hai ông Trịnh Hội và Nguyễn Quốc Lân đã thu được trên 300.000 USD. LAVAS là tên viết tắt của “Legal Assistance for Vietnamese Asylum Seekers” – một chương trình có từ năm 1990 của tổ chức Boat People SOS. Tuy nhiên, vào năm 2005, LAVAS chỉ còn là một chương trình trực thuộc Boat People SOS, và không còn đăng ký hoạt động với Sở Thuế Liên bang. Trả lời báo Houston Chronicle vào ngày 10 tháng 5 năm 2005, ông Nguyễn Quốc Lân cho biết ông đã đăng ký một tổ chức LAVAS khác, như một công ty tư nhân chứ không phải như một tổ chức phi lợi nhuận (11). Trả lời tờ Houston Chronicle, nhân viên Phòng Thuế Vụ của tiểu bang California cho biết: “các tổ chức được miễn thuế phải công bố hồ sơ tài chính. Nhưng hồ sơ tài chính của công ty tư như LAVAS thì được giữ bí mật”. Như vậy, không ai biết công ty LAVAS mới này (không hề trực thuộc LAVAS của Boat People SOS) đã tiêu các khoản tiền quyên góp như thế nào, trừ ông Hội và ông Lân.

Thêm vào đó, khi ông Nguyễn Thanh Tú nói chuyện với văn phòng hữu trách của bang California, nhân viên văn phòng cho biết không hề có công ty hay hội đoàn mang tên LAVAS nào đăng ký hoạt động với tiểu bang này, như lời ông Lân tuyên bố trên Houston Chronicle. Trên website của tiểu bang cũng không có hồ sơ nào mang tên LAVAS.

Cũng theo bài trên Houston Chronicle, Bộ Ngoại giao Mỹ đã khẳng định rằng họ “không cần và không chào đón sự giúp đỡ của luật sư người Việt nào trong việc định cư số người còn kẹt lại ở Philippines”. Như vậy, sự “hỗ trợ pháp lý” mà văn phòng của Trịnh Hội cung cấp cho những người vượt biên này là hoàn toàn không có giá trị.

Năm 2004, ông Hội làm đám cưới với bà Nguyễn Cao Kỳ Duyên ở Philippines. Bà Duyên là con gái ông Nguyễn Cao Kỳ, người từng mang hàm thiếu tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa và giữ chức Phó Tổng thống. Theo các tờ báo giải trí trong nước, ông Hội gặp bà Duyên lần đầu vào năm 2000, trong một buổi văn nghệ từ thiện do ông tổ chức (12). Tháng 12 năm 2008, ông Hội và bà Duyên li hôn. Báo An ninh Thế giới, một tờ báo của cơ quan công an Việt Nam, lí giải cuộc li hôn này như sau (13):

“Trước khi li dị, Trịnh Hội đã sử dụng hộp thư điện tử của bà Kỳ Duyên để tán phát một số bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đồng thời cung cấp số điện thoại, địa chỉ của các Đại sứ quán, Cơ quan công quyền Việt Nam ở trong và ngoài nước để kêu gọi “khủng bố” bằng hình thức gửi email phản đối việc Cơ quan An ninh Việt Nam đã tạm giữ anh ta vì anh ta là thành viên cốt cán của đảng Việt Tân.

Những bài viết ấy được Trịnh Hội và tổ chức khủng bố Việt Tân tung lên mạng Internet cùng nhiều hộp thư điện tử của nhiều cá nhân. Kết quả là đã một thời, dư luận lấy làm kinh ngạc, không hiểu vì sao bà Kỳ Duyên lại hành xử như thế trong lúc cha bà – ông Nguyễn Cao Kỳ đã về thăm quê hương nhiều lần và được Nhà nước Việt Nam rất ưu ái. Chẳng đặng đừng, bà Kỳ Duyên phải lên tiếng thanh minh. Sau đó hai người ly hôn”.

Trong khi đó, trả lời các tờ báo giải trí trong nước, bà Duyên tuyên bố bà và ông Hội ly hôn do “phải xa nhau quá nhiều”. Tuy nhiên, cả bà và ông Hội đều chưa từng bác bỏ, hoặc đề cập đến lời lí giải của báo An ninh Thế giới.

Từ một ca sĩ và MC nghiệp dư, chỉ biểu diễn trong những buổi tiệc gây quĩ từ thiện mà cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài tổ chức, Trịnh Hội đã dần trở thành người có địa vị trong ngành giải trí Việt Nam. Năm 2005, ông Hội làm MC cho Trung tâm Asia, trung tâm sản xuất ca nhạc lớn nhất của người Mỹ gốc Việt. Năm 2006, ông trở thành Giám đốc Điều hành của đài SBTN (Saigon Broadcasting Television Network), đài truyền hình lớn nhất trong số các đài người gốc Việt ở nước ngoài (14). Từ tháng 9 năm 2007 đến cuối tháng 8 năm 2008, ông ở Việt Nam để đóng phim “14 ngày phép”.

 

Chú thích:

(1) http://vietnamvoice.org/about-us/

(2) http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/03/160307_nguyen_ngoc_bich_by_trinh_hoi

(3) https://voice-europe.org/2016/05/04/viet-tan-voice-va-toi-trinh-hoi/

(4) http://www.viettan.org/Leadership.html

(5) http://antg.cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-antg/Nhom-loi-dung-Cong-dong-nguoi-Viet-tu-do-lien-bang-Uc-chau%E2%80%A6-294126/

(6) http://www.tinparis.net/thoisu12/2012_05_11_NhomthieusoVietTandieuKhienCongDongUcChau_LeThanhTam_coivayMKPVay.html

(7) http://www.bbc.com/vietnamese/programmes/story/2006/08/agendaweek35_2006_thehemotruoisydney.shtml

(8) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Human_Rights_concerns_in_Vietnam_TTruc-20071107.html

(9) http://ngoisao.net/tin-tuc/hau-truong/trinh-hoi-than-thiet-voi-vua-bhutan-2530712.html

(10) https://damphong.com/2016/05/06/thong-bao-12-trinh-hoi-luong-moi-thang-100-nha-ba-can-2500-000/

https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

(11) http://www.chron.com/news/houston-texas/article/Stranded-Vietnamese-a-concern-to-local-community-1640265.php

(12) http://me.phununet.com/WikiPhununet/ChiTietWiki.aspx?StoreID=25827

(13) http://antg.cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Trinh-Hoi-Con-roi-trong-tay-to-chuc-khung-bo-Viet-Tan-393740/

(14) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

 


 

II. Một công ty tổ chức sự kiện

Sẽ không sai nếu nói rằng trong giai đoạn đầu đời, VOICE là một công ty chuyên tổ chức sự kiện. Ngày 20 tháng 4 năm 2010, blog vietnamvoice.wordpress.com đăng một bản danh sách các hoạt động của tổ chức (ảnh dưới). Dưới tựa đề “Updates of VOICE’s activities”, có tổng cộng 10 hoạt động được liệt kê. Bốn trong số này là những lần họ phối hợp với một đoàn thể khác để tổ chức hội thảo. Ba trong số này là những cuộc gặp – bao gồm một lần họ được mời phát biểu trong tiệc tối của một hội thảo, một lần họ được gặp ông Kelly Ryan – Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách về dân số tị nạn và di cư của Mỹ, và một lần họ được gặp Bộ trưởng Nhập cư và Quốc tịch của Australia. Bản danh sách các hoạt động này liệt kê cả một lần họ dựng văn phòng, và một lần họ tuyên bố tách đôi thành hai tổ chức. Sau cùng, trong toàn bộ danh sách, chỉ có một hoạt động duy nhất mang tính chất của công việc thiện nguyện, là lần họ phối hợp với tổ chức Hope for Tomorrow để khám và điều trị y tế ở Siem Reap, Campuchia. Tất nhiên, trong sự kiện này, khám và điều trị y tế là phần việc của Hope for Tomorrow, còn phần việc của VOICE là tổ chức sự kiện.

Trong danh sách “10 việc đã làm” này, chỉ có hai việc họ làm một cách hoàn toàn tự lập, là việc dựng văn phòng cho mình, và việc tách đôi. Vì văn phòng của họ được dựng bằng tiền quyên góp được trong một buổi tiệc gây quĩ, và tách đôi là một phản ứng thụ động của họ trước chính sách của chính quyền Campuchia, có thể nói rằng sự tự lập ở đây cũng chỉ mang tính tương đối.

Tất nhiên, bản danh sách trên có thể không liệt kê đầy đủ các hoạt động của VOICE trong hai năm 2008 và 2009. Tuy vậy, qua cách họ liệt kê đầu việc, có thể thấy cái nhìn của họ về VOICE, và về công việc của bản thân. Tiền thân của VOICE là các hoạt động thiện nguyện trong giai đoạn 1997 – 2007 của Trịnh Hội, mà hầu hết là các buổi tổ chức văn nghệ để gây quĩ trong cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài. Vì vậy, sự gắn bó của họ với các hoạt động tổ chức sự kiện là điều dễ hiểu.

Sự lệ thuộc của VOICE vào các buổi văn nghệ gây quĩ được thể hiện rõ trong một bài viết trên Việt Báo, mang tựa đề “Virginia: Nhóm thiện nguyện trẻ VOICE giúp tị nạn, phụ nữ” (1). Được đăng tải vào ngày 20 tháng 4 năm 2007, không lâu sau ngày VOICE thành lập, và trước buổi tiệc ra mắt hôm 5 tháng 5, bài này là tài liệu đáng tin cậy về các mục tiêu và hoạt động của VOICE lúc sơ khởi. Theo bài viết, ban đầu, VOICE được thành lập để thực hiện ba mục tiêu:

“_ Giúp người tỵ nạn còn kẹt lại ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Cao Miên, Thái Lan gần hơn 17 năm. Tại Cao Miên có một số hồ sơ tỵ nạn vì đàn áp tôn giáo, trốn sang Cao  Miên và được Cao Ủy Tỵ Nạn  chấp nhận là người tỵ nạn. Văn phòng của VOICE sẽ tiếp tục vận động cho những hồ sơ này.

_ Giúp những phụ nữ và trẻ em Việt Năm trong tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Năm ở Đông Nam Á như Miên, Thái..

_ VOICE cũng cấp học bổng cho những người đã tốt nghiệp đại học ở VN mà vì quá nghèo không có cơ hội để đi ra nước ngoài. VOICE sẽ cho những người đã học hành xong ở VN sang Phi để học thêm tiếng Anh, vì một trong những ngôn ngữ chính của Phi là tiếng Anh. Và đây cũng là cơ hội để giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”.

Cần lưu ý rằng vào năm 2007, ở Việt Nam không thiếu các lớp dạy tiếng Anh. Mặt khác, vì ông Trịnh Hội về Việt Nam để đóng phim trong năm này, ông hoàn toàn đủ điều kiện để mở một lớp dạy tiếng Anh, hoặc cấp học bồng để thanh niên có hoàn cảnh khó khăn được theo học những lớp tiếng Anh có sẵn trong nước. Vì hầu hết tiền học bổng không được dùng để trả học phí, mà được dùng để lo chi phí ăn ở và đi lại cho người học, nếu VOICE cấp học bổng để thanh niên học tiếng Anh ngay trong nước, họ chắc chắn sẽ giúp được nhiều người hơn gấp bội so với trường hợp họ đưa người sang Philippines. Như vậy, có thể hiểu rằng ngay từ những ngày đầu hoạt động, mục tiêu của VOICE đã không giống như lời tuyên bố chính thức. Giữa việc chính, là dạy tiếng Anh cho những người Việt Nam “quá nghèo”, và việc phụ, là “giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”, có lẽ VOICE quan tâm đến vế thứ hai hơn.

Bài viết cũng đề cập đến việc bà Lisa Thùy Dương, Giám đốc Điều hành của VOICE, là người “trúng tuyển giải nhất MC trong kỳ thi tuyển lựa “Tài Năng Trẻ” do SBTN và Trung Tâm Asia tổ chức hồi tháng 2, 2007”.

Trong bài, bà Thùy Dương khẳng định sự lệ thuộc của VOICE vào những buổi văn nghệ gây quỹ:

“…Văn Phòng ở Phi Luật Tân hiện có tám người, chi phí một tháng khoảng 3000 mỹ kim do những cuộc gây qũy ở Úc, Canada và Mỹ. Nhờ có văn phòng này giúp đỡ mà hai ngàn đồng bào tỵ nạn Việt ở Phi được đến định cư ở HK gần đây.

Từ đây đến cuối năm VOICE dự định sẽ mở thêm một văn phòng nữa ở Cao Miên…”

“…Để có ngân khoản thực hiện ba văn phòng, VOICE trông cậy vào những buổi gây quỹ ở Mỹ, Canada và Úc. Vào ngày 5 Tháng Năm, 2007 sẽ có một buổi gây quỹ và ra mắt nhóm thiện nguyện VOICE ở: Westin Arlington Gateway, 801 North Glebe Road, Arlington, VA. Từ 6:30 pm – 12am, với ba ca sĩ nổi tiếng từ Cali như Thanh Hà, Nguyên Khang và Loan Châu. Giá vé là $100/vé, vé ủng hộ $200/vé”.

Tuy nhiên, ngay cả khi đã đa dạng hóa nguồn tài chính, VOICE vẫn tỏ ra gắn bó với những buổi văn nghệ gây quỹ kiểu này. Có thể nói rằng trong suốt 10 năm tồn tại, từ 2007 tới nay, hoạt động liên tục, đều đặn, ổn định và có tính truyền thống nhất của VOICE là tổ chức liên hoan văn nghệ để gây quỹ.

Chẳng hạn, trong ngày 23 và 25 tháng 1 năm 2015, chỉ riêng chi nhánh châu Âu của VOICE đã liên tục tổ chức hai buổi văn nghệ gây quỹ ở Brussels và Paris, với mục đích “hỗ trợ sự phát triển của xã hội dân sự Việt Nam” (2). Cùng thời điểm đó, các cảm tình viên của họ ở Munich cũng tổ chức buổi văn nghệ gây quỹ cho hai “đoàn thể dân sự”, là Con đường Việt Nam và Nhịp cầu Hoàng Sa. Ngày 7 tháng 2 năm 2015, VOICE Canada tổ chức buổi văn nghệ để gây quỹ cho các thương, phế binh Việt Nam Cộng hòa (3). Trong ba ngày 13, 27 và 28 tháng 6 năm 2015, VOICE Canada liên tục tổ chức ba buổi văn nghệ ở Edmonton, Toronto và Ottawa, với mục đích tương tự (4). Trong bốn ngày 17, 18, 19 và 25 tháng 7 năm 2015, VOICE Australia liên tục tổ chức bốn buổi văn nghệ tại Sydney, Perth, Melbourne và Brisbane, để gây quỹ giúp các “thuyền nhân” Việt Nam (5). Ngày 15 tháng 8 năm 2015, VOICE tổ chức buổi văn nghệ tại San Jose, để gây quỹ cho việc “bảo vệ nhân quyền và phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam”, đồng thời ”tiếp tục công việc giúp đỡ người tị nạn” (6). Ngày 6 tháng 9 năm 2015, tại Houston, VOICE tổ chức buổi văn nghệ kỷ niêm 10 năm hình thành cộng đồng, nhân tiện gây quỹ giúp định cư người Syria tị nạn (7). Ngày 3 tháng 10 năm 2015, VOICE Europe tổ chức một đêm văn nghệ gây quỹ để xây trường học cho trẻ em Nepal (8). Cùng ngày, VOICE Canada tổ chức một buổi gặp mặt ở chùa Pháp Vân, quyên được $10.000 để giúp định cư người Syria tị nạn (9).

Như vậy, riêng trong năm 2015, VOICE đã tổ chức tối thiểu 15 buổi văn nghệ gây quỹ, để giúp đỡ nhiều đối tượng – cả xã hội dân sự, thương phế binh, nạn nhân động đất lẫn người tị nạn; cả người gốc Việt, người Syria lẫn trẻ em Nepal. Tổng số buổi văn nghệ được tổ chức trong năm này có lẽ còn lớn hơn, vì trên đây chỉ là những buổi mà chúng tôi tìm thấy trên Google.

Các buổi liên hoan văn nghệ gây quỹ dường như đã trở thành một hoạt động mang tính truyền thống, và gắn bó với bản sắc của VOICE, dù giờ đây, tổ chức này không còn quá lệ thuộc vào nguồn vốn từ cộng đồng, và công nghệ hiện đại cũng đã cho phép họ chọn nhiều hình thức khác để gây quỹ.

Trong suốt 10 năm hoạt động của VOICE, cấu trúc các buổi liên hoan văn nghệ mà họ tổ chức cũng không thay đổi. Sau phần giới thiệu của ban tổ chức, mọi buổi văn nghệ đều bao gồm đầy đủ những bước sau:

_ Chiếu phim hoặc diễn thuyết về một chủ đề chính trị. Thường thì chủ đề được chọn ít nhiều liên quan đến mục đích sử dụng của khoản quỹ. Chẳng hạn, buổi văn nghệ gây quỹ ngày 4 tháng 10 năm 2007 tại Nam California được mở đầu bằng bộ phim tài liệu ngắn mang tên “Stateless Vietnamese In The Philippines” (10). Trong buổi văn nghệ gây quỹ được tổ chức ngày 9 tháng 8 năm 2009 ở Virginia, họ chiếu một đoạn phim ngắn do International Organization Migration thực hiện, mô tả tình cảnh của những cô gái làm nghề mại dâm, trước khi gây quỹ để giúp những phụ nữ và trẻ em gốc Việt ở Campuchia bị bán làm nô lệ tình dục (11).

_ Một số cá nhân tham gia buổi văn nghệ, hoặc đôi lúc là cả hội trường, đứng dậy để “lên tiếng” về vấn đề chính trị vừa được nêu ra trong đoạn phim hoặc bài diễn văn trước đó. Chẳng hạn, trong buổi văn nghệ được tổ chức ở Bruxells ngày 21 tháng 5 năm 2016, “toàn thể hội trường đồng thanh tố cáo sự vô trách nhiệm của chính quyền Việt Nam trong biến cố hãng Formosa thải chất độc tại Vũng Áng, làm ô nhiễm nặng nề 200 cây số biển miền Trung” (12). Qua một loạt ảnh chụp được họ đăng lên để làm truyền thông, có thể thấy phần này của buổi văn nghệ hội đủ tính chất của một cuộc biểu tình cỡ nhỏ.

Xem trình diễn ca nhạc và ăn uống.

 Ủng hộ tiền cho quỹ, bằng cách góp tiền trực tiếp, hoặc tham gia mua đấu giá một mặt hàng tượng trưng. Chẳng hạn, trong buổi văn nghệ gây quỹ ngày 4 tháng 10 năm 2007 tại Nam California, một phần quỹ thu được đến từ tiền bán tranh. Trong buổi tiệc mừng VOICE Australia tròn 5 tuổi, Ban Tổ chức đã bán đấu giá một cây đàn guitar “có chữ ký của các nghệ sĩ ở châu Âu và Hoa Kỳ trên thân đàn”, và thu được 10.000 AUD.

Cây đàn guitar “có chữ ký của các nghệ sĩ ở châu Âu và Hoa Kỳ”, được bán đấu giá trong buổi sinh nhật VOICE Australia

Trong những buổi liên hoan văn nghệ của VOICE, không có khoảng cách giữa chính trị, từ thiện, nghệ thuật và giải trí.

 

Chú thích:

(1) https://vietbao.com/a117929/virginia-nhom-thien-nguyen-tre-voice-giup-ti-nan-phu-nu

(2) http://vietnamvoice.org/2015/03/voices-activities-in-january-2015/

(3) https://m.facebook.com/VOICECanada2014/posts/709329399186534

(4) https://youtu.be/1nfaNQRjt0I

(5) https://www.facebook.com/thanhuuviettanucchau/posts/638055726331677

(6) https://youtu.be/UOCz0wYcL7Q

(7) http://www.sbtn.tv/aylan-kurdi-oi-em-da-chet-cho-moi-nguoi-duoc-song-nam-loc/

(8) https://voice-europe.org/2015/12/17/dem-van-nghe-vao-thu-310-the-hien-tinh-than-lien-doi-voi-nepal-nguyen-gia-thuong/

(9) https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/VOICE-Canada-gay-quy-giup-dinh-cu-nguoi-Syria-5642/

(10) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst5767_Tuong-Trinh-ve-Dem-Ca-Nhac-Gay-Quy-cua-VOICE.aspx

(11)  https://vietbao.com/a122662/cho-em-niem-uoc-mo-voice-gay-quy-giup-nan-nhan-no-le-tinh-duc-o-cambodia

(12) https://voice-europe.org/2016/09/12/dem-gala-2105-tai-bruxelles/

 


 

III. Vụ trục xuất khẩn cấp khỏi Campuchia

Ngày 11 tháng 6 năm 2007, khoảng hai tháng sau khi VOICE được thành lập, Việt Báo đăng tải một bài viết mang tên “Bán trinh trẻ em Việt Nam ở Cambodia” (1). Bài dẫn số liệu để khẳng định rằng 52% số gái mại dâm ở Phnompenh là phụ nữ và trẻ em gốc Việt. Sau khi mô tả thực trạng buôn bán nô lệ tình dục và tình cảnh của các gái mại dâm gốc Việt ở Cambodia, bài đưa ra đoạn thông tin sau:

“Hiện nay không có một cơ quan từ  thiện nào  giúp người Việt ở Cambodia . VOICE là một nhóm chuyên gia trẻ người VN ở Mỹ, Úc, Canada đang cố gắng gây quỹ  mở văn phòng để giúp đỡ người Việt ở đây. Nếu  đồng hương muốn giúp VOICE có phương tiện giúp đồng bào  mình ở Cambodia thì xin liên lạc với Cô Thùy Dương (202) 544-2376”.

Tháng 7 năm 2008, VOICE mở văn phòng ở Siem Riep, Campuchia. VOICE Campuchia chính thức thành lập (2).

Ngày 6 tháng 6 năm 2009, Việt Báo đăng bài viết mang tên “VOICE làm từ thiện ‘Sen Hoa’ giúp trẻ em Việt Nam tại Cam Bốt” (3). Bài dẫn lời Thùy Dương và Uyển Diễm, hai thành viên của VOICE điều hành chương trình “Sen Hoa”. Họ giải thích rằng “Sen Hoa” là một chương trình gây quĩ từ thiện của VOICE, theo đó, những trẻ em Việt Nam được đưa ra khỏi các ổ mại dâm sẽ được họ hướng dẫn “tự tay làm những món quà trang sức bằng thủ công thật giá trị”. Cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài sẽ mua số đồ trang sức này từ VOICE để giúp đỡ số trẻ em đó.

Tháng 5 năm 2011, khi trả lời phỏng vấn VietSun Magazine, bà Thùy Dương giải thích ý nghĩa của cái tên “Sen Hoa” (4):

“…Trong một chuyến đi Cam Bốt, Thùy Dương nghe một bé gái 15 tuổi tên Quyên sau khi được cứu ra khỏi ổ mại dâm, Quyên nói rằng đối với em, bùn dơ đã trở thành quá khứ, còn bây giờ em như một đóa hoa nở đẹp hơn… Từ đó, Thùy Dương mới nghĩ ra tên Sen Hoa – nói lái đi của chữ Hoa Sen – ví cuộc đời của những em gái Việt Nam kém may mắn rơi vào chốn bùn dơ của tệ nạn buôn người, nhưng các em vẫn có những đức tính đáng quý như bông hoa sen mọc lên từ chốn bùn lầy nhưng vẫn giữ được sự tinh khiết, thơm tho”.

Bà Thùy Dương không giải thích vì sao khi đặt tên, bà không giữ nguyên từ Hoa Sen để đúng với ngữ pháp tiếng Việt, mà phải nói lái thành “Sen Hoa”.

Bà cũng cho biết thêm rằng siêu mẫu Coco Rocha người Canada đã đeo trang sức “Sen Hoa” trong đám cưới của mình, và hiện nay các thành viên VOICE đang cố gắng đưa nữ trang “Sen Hoa” “tiếp cận một số tài tử Hollywood”.

Ngày 10 tháng 11 năm 2009, chính quyền Campuchia ra lệnh rằng các thành viên VOICE phải rời khỏi Campuchia trong vòng 24 tiếng đồng hồ, nếu không sẽ bị bắt tạm giam. Theo thông cáo báo chí của VOICE, thì lệnh trục xuất này được đưa ra do chính quyền Campuchia cho rằng VOICE đang lợi dụng các hoạt động thiện nguyện của mình để “tổ chức những đoàn ca nhạc bất hợp pháp, nhằm chống nước láng giềng của Campuchia” (5). Trong thông cáo, ông Maxwell Võ, chủ tịch của VOICE khi đó, tuyên bố ông “mạnh mẽ phủ nhận lời buộc tội này”. Ông tuyên bố thêm: “Đây là một sự trì hoãn tai hại với những trẻ em và phụ nữ Campuchia đang lệ thuộc vào công tác của VOICE – vừa để được giải quyết các vấn đề gấp rút của mình, vừa để được hi vọng vào một tương lai tươi sáng”. Tuy nhiên, thông cáo không khẳng định rằng VOICE Campuchia không có hoạt động nào khác ngoài các hoạt động thiện nguyện.

Ngày 20 tháng 1 năm 2010, VOICE ra thông cáo báo chí để tuyên bố rằng VOICE và “Sen Hoa” sẽ tách thành hai đoàn thể độc lập với nhau (6). “Sen Hoa” sẽ đăng ký với chính quyền Campuchia để có tư cách hoạt động ở nước này như một tổ chức phi lợi nhuận. Trong khi đó, VOICE sẽ đóng cửa văn phòng ở Siem Riep từ tháng 12 năm 2009 và rút khỏi Campuchia.

Đầu thông cáo, VOICE thừa nhận rằng chính quyền Campuchia đã “bày tỏ mối quan tâm về các hoạt động vận động chính trị của VOICE”.

Trong một bài viết được đăng tải ngày 13 tháng 5 năm 2016, ông Nguyễn Thanh Tú cáo buộc rằng VOICE Campuchia bị chính phủ nước này trục xuất không phải do các hoạt động từ thiện, mà vì văn phòng của VOICE ở Siem Riep “là trạm trung chuyển để Việt Tân đưa người từ Việt Nam sang Thái Lan” (7). Trong bài, ông Tú lưu ý rằng trong hai năm 2007 và 2008, ông Trịnh Hội không quản lí VOICE, vì ông đang ở Việt Nam để đóng phim giải trí. Các công việc của VOICE trong giai đoạn đó được điều hành bởi năm thành viên ban lãnh đạo đang ở nước ngoài, trong đó ngoài ông Maxwell Võ, cả bốn người còn lại đều đã được làm rõ là cảm tình viên hoặc cán bộ cao cấp của đảng Việt Tân.

Có hai chi tiết nữa ủng hộ giả thuyết của ông Nguyễn Thanh Tú. Thứ nhất, như đã trích trong mục trước, ngay từ tháng 4 năm 2007 – những ngày hoạt động đầu tiên, VOICE đã công khai khẳng định rằng họ đặt mục tiêu đưa các thanh niên Việt Nam nghèo ra nước ngoài “để giúp cho họ học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức về xã hội dân sự và luật pháp quốc tế”. Như vậy, việc dựng một trạm trung chuyển ở Campuchia là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu mà VOICE đã đặt.

Thứ hai, những diễn biến thời sự cho thấy trong giai đoạn 2007 – 2009, đảng Việt Tân cũng đang tìm cách thiết lập một tuyến đường chuyển người qua ngả Campuchia.

Ngày 17 tháng 11 năm 2007, một đảng viên Việt Tân tên Nguyễn Quốc Quân bị bắt. Trước đó, ông Quân đã làm một thẻ căn cước Campuchia giả, và “trực tiếp xâm nhập từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh)”. Theo thông tin từ Cơ quan An ninh Điều tra của Bộ Công an Việt Nam, mà báo Sài Gòn Giải phóng dẫn lại (9), thì:

“Đến tháng 8-2006, Nguyễn Quốc Quân được tổ chức “Việt Tân” phân công tham gia kế hoạch “Sang sông”, lấy tên giả Ly Seng, trực tiếp xâm nhập từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh). Đây là kế hoạch do tổ chức “Việt Tân” vạch ra nhằm đưa người về Việt Nam dưới hình thức thăm thân nhân, du lịch và cho người xâm nhập trái phép qua ngả biên giới Việt Nam – Campuchia, với mục đích thiết lập đường dây vận chuyển vũ khí, chất nổ vào Việt Nam, tiến hành khủng bố”.

Ngày 9 tháng 5 năm 2009, chính quyền Việt Nam bắt ông Nguyễn Văn Bé, một đảng viên khác của Việt Tân. Theo lời khai của ông Bé, ông bay từ Australia đến thành phố Hồ Chí Minh trước đó tròn một tháng. Tường thuật vụ việc, báo An ninh Thế giới có đoạn (10):

“Theo chỉ đạo của Đặng Quốc Sủng, Lê Ánh, Nguyễn Văn Bé đã mua một máy chụp ảnh và học cách sử dụng vì nhiệm vụ của Việt Tân giao cho Bé là khi về Việt Nam,  trong vai khách du lịch, Bé đi chơi nhiều nơi, chụp nhiều hình nhưng trong đó, phải chụp cho được cửa khẩu Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cửa khẩu Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh cùng các lối mòn dọc theo hai bên cánh gà cửa khẩu, đồng thời tìm hiểu quy luật qua lại của người dân vùng giáp biên giới Việt Nam, Campuchia. Bên cạnh đó, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP HCM cũng là mục tiêu mà Nguyễn Văn Bé phải chụp hình”.

Cần lưu ý rằng ngay từ tháng 4 năm 2007, hai tháng sau ngày đăng ký thành lập, VOICE đã tuyên bố rằng “từ đây đến cuối năm VOICE dự định sẽ mở thêm một văn phòng nữa ở Cao Miên” (8). Thời điểm của những nỗ lực này tình cờ trùng khớp với giai đoạn các đảng viên Việt Tân về nước thăm dò để tìm cách thiết lập đường dây chuyển người qua biên giới Việt Nam – Campuchia. Sau khi VOICE bị trục xuất khỏi Campuchia, không còn đảng viên Việt Tân nào bị bắt vì liên quan đến tuyến đường này nữa.

Tuy nhiên, vào lúc này, quan điểm của ông Nguyễn Thanh Tú vẫn chỉ nên được xem như một giả thuyết để tham khảo, vì chúng ta chưa có đủ dữ kiện để đưa ra kết luận sau cùng.

Sau vụ việc này, năm 2010, hai sáng lập viên của VOICE là bà Lisa Thùy Dương và ông Hoàng Tứ Duy cùng rời khỏi tổ chức mà không thông báo nguyên nhân. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục cộng tác chặt chẽ với VOICE trong nhiều hoạt động chính trị, văn hóa và giải trí của cộng đồng người gốc Việt ở nước ngoài, mà một ví dụ là Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 6.

 

Chú thích:

(1) https://vietbao.com/a97283/ban-trinh-tre-em-viet-nam-o-cambodia

(2) https://vietnamvoice.wordpress.com/

(3) https://vietbao.com/a122327/voice-lam-tu-thien-sen-hoa-giup-tre-viet-tai-cam-bot

(4) http://forum.trungtamasia.com/yaf_postst393_Thuy-Duong-va-sen-hoa.aspx

(5) http://files.meetup.com/184719/VOICE%20PRESS%20RELEASE.pdf

(6) https://vietnamvoice.wordpress.com/2010/04/20/voice-and-senhoa-separate/

(7) https://damphong.com/2016/05/13/t-h-o-n-g-b-a-o-1-4-giau-dau-v-o-i-c-e-ho%CC%89-duoi-v-i-e%CC%A3-t-t-a-n/

(8) https://vietbao.com/a117929/virginia-nhom-thien-nguyen-tre-voice-giup-ti-nan-phu-nu

(9) http://www.baomoi.com/bat-giu-nguyen-quoc-quan-ve-toi-khung-bo-nham-chong-chinh-quyen-nhan-dan/c/8364208.epi

(10) http://antg.cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Pha-vo-mot-am-muu-khung-bo-cua-nhom-phan-dong-Viet-Tan-294628/

 


 

IV. Tham gia Ban Tổ chức Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới

Trong những sự kiện mà VOICE từng tham gia tổ chức, hai kì Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới, diễn ra vào năm 2008 và 2011, có một tầm quan trọng nổi bật.

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam thế giới (sau đây gọi tắt là Đại hội) là chuỗi sự kiện gắn liền với tổ chức Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường. Mạng lưới này được thành lập vào năm 1999, ngay sau khi Đại hội 1 được tổ chức ở Melbourne, Australia. Theo lời tự giới thiệu của họ, thì tổ chức này tập hợp “các nhà lãnh đạo trẻ từ khắp 5 châu thiết tha quan tâm đến tương lai của đất nước Việt Nam” (1). Hoạt động của Mạng lưới này, và của các kỳ Đại hội mà nó tổ chức hai năm một lần, được tuyên bố là hướng đến ba mục tiêu:

“_ Kết nối giới trẻ Việt Nam từ khắp năm châu trong việc tạo sự nhận thức về bản sắc văn hóa và trách nhiệm của chúng ta, để chúng ta có thể cùng chung tay trong các công việc nhân đạo, quảng bá nhân quyền và dân chủ ở khắp nơi trên thế giới cũng như Việt Nam.

_ Hình thành một mạng lưới bao gồm các tổ chức và cá nhân ở khắp năm châu để cùng nhau chia xẻ những suy tư, trao đổi kiến thức, và hỗ trợ lẫn nhau.

_ Khuyến khích sự trao đổi, tham gia, và hoạt động cho những dự án có lợi cho đất nước Việt Nam, trên bình diện địa phương và quốc tế”.

Người sáng lập Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường cũng chính là Trưởng Ban Tổ chức Đại hội 1, ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong. Ông Phong sinh năm 1970, tốt nghiệp Bác sỹ tại Australia. Ông cũng tham gia Cộng đồng Người Việt Tự do Liên bang Úc châu, và trở thành Phó Chủ tịch phụ trách Ngoại vụ của tổ chức này trong nhiệm kì 2001 – 2003, khi ông Đoàn Việt Trung đang giữ chức Chủ tịch (2). Như ở trên đã đề cập, ông Đoàn Việt Trung là sáng lập viên và Chủ tịch hiện tại của VOICE.

Ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong cũng tham gia đảng Việt Tân từ năm 1998, và là thành viên Trung ương Đảng bộ từ năm 2006 cho đến thời điểm hiện tại.

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5 được tổ chức ở Kuala Lumpur, Malaysia, từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 1 năm 2008. Ảnh dưới là bản thông báo của Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường về Đại hội, trong đó nêu rõ chủ đề chính, bốn đề tài được chọn để trao đổi, và những diễn giả sẽ tham gia:

10

Qua thông báo, có thể thấy rằng hai thành viên VOICE, là bà Nguyễn Thùy Dương Lisa, Giám đốc Điều hành, và ông Nguyễn Bá Vương, quản trị viên văn phòng VOICE Philippines, phụ trách toàn bộ việc diễn thuyết cho đề tài cuối. Ngoài ra, ông Hoàng Tứ Duy, một thành viên khác trong Hội đồng Quản trị VOICE thời đó, là diễn giả Việt Nam duy nhất phụ trách đề tài thứ ba. Ngoài ra, bà Nguyễn Thùy Dương, Giám đốc Điều hành lúc đó của VOICE, là MC của Đại hội (3).

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5

Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 5

Từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 8 năm 2011, Đại hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam Thế giới kỳ 6 được tổ chức ở Manila, Philippines. Logo của VOICE và Senhoa chiếm hai vị trí đầu tiên trong danh sách những tổ chức tham gia Đại hội (4). Đại hội có tổng cộng năm diễn giả gốc Việt, ba trong số đó là Trịnh Hội, Lisa Thùy Linh và Hoàng Tứ Duy – tức các thành viên hoặc cựu thành viên ban lãnh đạo VOICE (5). Hai đơn vị truyền thông quan trọng nhất trong chiến dịch quảng bá Đại hội này là Trung tâm Asia – mà ông Trịnh Hội tham gia từ năm 2005, còn bà Thùy Dương tham gia từ năm 2007, và đài SBTN – mà ông Trịnh Hội làm Giám đốc Sản xuất từ năm 2009. Cụ thể, để quảng bá và kêu gọi ủng hộ tài chính cho Đại hội, đài SBTN và Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường phối hợp tổ chức một buổi văn nghệ, được chiếu trực tiếp trên đài vào ngày 12 tháng 6 (6). Sang tháng 7, để kêu gọi giới trẻ tham gia Đại hội, đài SBTN thực hiện một buổi phỏng vấn bà Lily Ngọc Hiếu Nguyễn – thành viên Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường kiêm đảng viên Việt Tân (7). Buổi phỏng vấn do cô Lisa Thùy Dương thực hiện.

Trong kì Đại hội này diễn ra một sự cố nổi tiếng. Ngày 7 tháng 8 năm 2011, website của Đại hội đăng tải một thông cáo báo chí khẳng định rằng “An ninh Cộng sản Việt Nam theo dõi và đe dọa Đại hội”. Hiện nay, bản thông cáo nguyên văn đã bị xóa hoàn toàn khỏi Internet, chỉ còn sót lại một thông báo ngắn hơn (8). Chúng ta chỉ có thể biết nội dung của bản thông cáo này qua lời tường thuật lại của RFA, đăng vào ngày 8 tháng 8 (9). Trong bài của RFA có đoạn như sau:

12

Ngoài ra, Ban Tổ chức Đại hội 6 còn đăng ảnh chụp passport của ông Thái Văn Dung lên website của Đại hội. Tuy nhiên, hiện bài đăng này cũng đã bị xóa.

Vào lúc 2h sáng ngày 19 tháng 8 năm 2011, cảnh sát Việt Nam bất ngờ bắt ông Thái Văn Dung tại nhà trọ của ông ở Cầu Giấy, Hà Nội (10). Cùng bị bắt để thẩm vấn có tất cả các bạn trọ cùng phòng của ông Dung. Sau hai tiếng thẩm vấn, các bạn cùng phòng của ông Dung được thả về, còn ông tiếp tục bị tạm giam. Sau đó, có thêm 14 thanh niên có quan hệ với ông Dung bị bắt, và một người khác bị truy nã. Tất cả số này đều là người Công giáo và Tin lành. Khi phiên tòa diễn ra trong hai ngày 8 và 9 tháng 1 năm 2013 kết thúc, 14 người bị bắt nhận tổng cộng 86 năm tù và 34 năm quản chế (11).

Ngày 29 tháng 8 năm 2011, và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một người viết blog nổi tiếng, đăng lên trang cá nhân của mình bài viết “Tôi cần có một câu trả lời” (12). Trong bài, bà cho rằng việc Ban Tổ chức Đại hội kỳ 6 công bố thông tin cá nhân và giấy tờ tùy thân của ông trên Internet, qua đó gián tiếp khẳng định rằng ông đã tham dự một sự kiện chính trị bị ngăn cấm bởi chính quyền Việt Nam, có liên quan đến việc ông bị bắt khi về nước. Theo lời bà Quỳnh trong bài, thì vào thời điểm đó, Ban Tổ chức Đại hội đã xóa bản Thông cáo Báo chí chứa những thông tin này. Bài viết của bà Quỳnh và sự lên tiếng của bạn bè ông Dung đã tạo ra một làn sóng công kích nhắm vào Ban Tổ chức Đại hội kỳ 6 và đảng Việt Tân.

Hai ngày sau, Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường ra một thông cáo báo chí, mang tựa đề “Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam Lên đường phát động chiến dịch tranh đấu cho các thanh niên yêu nước” (13). Trong thông cáo có đoạn:

“Trong số các thanh niên trên, có anh Thái Văn Dung là người đã tham dự Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới Kỳ 6 tại Phi Luật Tân vừa qua. Để bảo vệ sự an toàn của các tham dự viên từ trong nước và hải ngoại, Ban Tổ Chức đã phải trục xuất anh Thái Văn Dung ra khỏi Đại Hội vì anh đã tạo một số vấn đề an ninh. Dù anh Thái Văn Dung đã không tôn trọng nội quy của Đại Hội nhưng Mạng Lưới vẫn quan tâm tới việc anh vừa bị bắt và mong góp phần tranh đấu cho anh Dung và tất cả những bạn trẻ khác đang bị bắt giữ.

Là những người trẻ yêu chuộng tự do, chúng tôi không thể chấp nhận các vi phạm nhân quyền tại quê nhà. Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường sẽ phát động chiến dịch “Phải Lên Tiếng” để vận động cho các thanh niên yêu nước đang bị bắt cóc và giam giữ tùy tiện”.

Thông cáo không đề cập đến bài viết của bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và luồng dư luận liên quan.

Năm 2012, để đẩy mạnh chiến dịch “Phải Lên Tiếng”, đài SBTN thành lập Ủy ban Vận động Chính trị về Nhân quyền Việt Nam (Human Rights for Vietnam Political Action Committee – HRVN PAC).

Tháng 1 năm 2013, trên blog cá nhân của mình, ông Trịnh Hội kêu gọi mọi người cùng tham gia chiến dịch “Phải Lên Tiếng” (14):

“Một Lê Quốc Quân vừa bị bắt như anh Điếu Cày đang bị giam trong Hỏa Lò, Hà Nội. 15 thanh niên Công giáo vừa bị xử án chỉ trong vòng 2 ngày nhưng tổng cộng với số năm bị giam giữ, bị cho vào ngục tù lên đến gần 100 năm… Đầu tiên cả tôi lẫn bạn đều đồng ý cho rằng điều chúng ta cần phải làm trong mọi lúc, mọi nơi là: phải lên tiếng”.”

Ông Trịnh Hội lên sóng trong chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN

Ông Trịnh Hội lên sóng trong chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN

Ngày 12 tháng 5 năm 2013, ông Trịnh Hội lên sóng trong chuỗi chương trình “Hát cho Nhân quyền” của đài SBTN. Trong chuỗi chương trình, họ sử dụng hình ảnh của ông Thái Văn Dung và 13 người bạn để kêu gọi gây quỹ (15). Ngay sau ngày đầu phát sóng, chương trình quyên được tổng cộng $51.000. Theo báo cáo mà HRVN PAC gửi cho Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC), từ năm 2012 đến nay, họ đã thu được tổng cộng $336.000 (16). Tuy nhiên, cũng theo báo cáo này, số tiền dùng để hỗ trợ “các nhà tranh đấu nhân quyền ở Việt Nam” chỉ chiếm 16% tổng số tiền thu được. Lượng tiền đến tay các tù nhân chính trị – những người mà hình ảnh được sử dụng để kêu gọi quyên góp – chiếm 5%. Trong đó, ông Thái Văn Dung và 13 người bạn nhận được $250 mỗi người, tức tổng cộng $3.750. Trong khi đó, khoản tiền dùng để chi trả cho đài SBTN chiếm $72.300, khoản chi cho Trung tâm Asia là $55.400. Tổng chi phí để các nhân viên đài SBTN đi họp ở Australia và Mỹ là $19.100. Trong các khoản chi, có cả $5.000 được dùng để đóng góp cho VOICE, không rõ mục đích sử dụng.

Hiện nay, website của HRVN PAC đã bị chủ nhân xóa bỏ. Toàn bộ số video liên quan đến HRVN PAC của đài SBTN cũng đã bị xóa.

 

Chú thích:

(1) http://dh6-vi.lenduong.net/home

(2) http://viettan.org/Thanh-Phan-Lanh-%C4%90ao,31.html

(3) https://youtu.be/mhLDWQ0kI3c?t=5m50s

(4) http://dh6-en.lenduong.net/dh6-supporters

(5) http://dh6-vi.lenduong.net/program

(6) http://dh6-vi.lenduong.net/blog/buoivanngheduoctrinhchieutructieptrendhaitruyenhinhsbtn

(7) https://youtu.be/mhLDWQ0kI3c

(8) http://dh6-vi.lenduong.net/blog/anninhcongsanvietnamtheodoivadhedoadhaihoi6

(9) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-try-tampr-6th-inter-yout-conf-08082011080500.html

(10) https://thanhnienconggiao.blogspot.com/2011/08/cong-bat-anh-thai-van-dung.html

(11) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/harsh-sentn-for-christ-01092013071537.html

(12) https://danlambaovn.blogspot.com/2011/08/toi-can-co-mot-cau-tra-loi.html

(13) http://danlambaovn.blogspot.com/2011/08/thong-bao-cua-mang-luoi-tuoi-tre-vn-len.html

(14) https://kietchay.wordpress.com/2013/01/18/tan-man-dau-nam-trinh-hoi/

(15) https://youtu.be/KrLn9Fy7Dcs

(16) http://www.vanews.org/2016/03/thong-bao-so-6-bach-hoa-ve-viec-truc-ho.html

 


 

V. Quyên tiền để hỗ trợ các nạn nhân của bão Haiyan

Từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 11 năm 2013, bão Haiyan quét qua Philippines, khiến 6.300 người chết riêng ở nước này (1). Ngày 9 tháng 11, một ngày sau khi cơn bão đổ bộ vào Philippines, ông Trịnh Hội đăng lên Facebook cá nhân của mình lời kêu gọi quyên tiền để hỗ trợ các nạn nhân của cơn bão. Từ ngày 9 đến ngày 19 tháng 11, ông cập nhật trên Facebook mỗi ngày một lần về số tiền mà các cá nhân và hội đoàn đóng góp cho VOICE.

Ngày 9 tháng 11, ông viết:

“Đến tất cả những người bạn của tôi, xa hay gần, tị nạn hay không, đây là thời điểm chúng ta phải góp phần và giúp Philippines. Hơn 1,000 người chết chỉ riêng ở Tacloban và Samar… Mình sẽ tổng hợp lại tất cả tiền thu trong 2 ngày tới để giúp đỡ đất nước đã từng giúp đỡ mình. Cám ơn từ Manila.”

Ngày 10 tháng 11, ông viết:

“Hơn 10,000 chết tại Tacloban. Chúng ta phải thực hiện phần mình. Hãy cố gắng gọi tất cả bạn bè và người ủng hộ trong tuần này… Sydney, Melbourne, Orange County, San Jose, Atlanta, Houston, Florida, Boston, North Carolina, Virginia, Edmonton và Vancouver.”

Trong bài đăng trên Facebook vào ngày 19 tháng 11, ông Hội khẳng định rằng chỉ trong 10 ngày, VOICE đã quyên được $210.000 tiền ủng hộ (2). Trong cùng thời gian đó, tờ Người Việt ở Little Saigon chỉ quyên được $20.000, và tổng số tiền mà hai đài truyền hình SBTN và Saigon Entertainment TV quyên được là $268.000. Những buổi phát thức ăn, nước uống của các thành viên VOICE tại Philippines được báo giới nhiều nơi đưa tin (3).

So với các hoạt động trước, chiến dịch từ thiện năm 2013 của ông Trịnh Hội đã diễn ra thuận lợi một cách bất thường. May mắn này của ông Hội có lẽ đã đến từ ba thành viên mới gia nhập VOICE: Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn.

 

Chú thích:

(1)  https://web.archive.org/web/20141006091212/http://www.ndrrmc.gov.ph/attachments/article/1177/Update%20Effects%20TY%20YOLANDA%2017%20April%202014.pdf

(2) http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/voice-quyen-uoc-hon-200000-cho-nan-nhan.html

(3) http://saigonecho.com/index.php/cd-viet/xay-dung-cd-viet/8659-hoi-ty-nan-palawan-hoi-ngo-keu-goi-giup-nan-nhan-haiyan

 


 

VI. Sự gia nhập của Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn

Năm 2013, VOICE có một sự bổ xung nhân sự mang tính bước ngoặt. Họ nhận vào ba nhân viên, là Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn. Trước khi tham gia VOICE, cả ba đều là người trong nước, có uy tín trong các phong trào chính trị và dân sự, và được cho là đại diện cho thế hệ trẻ của các phong trào này. Việc Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn gia nhập VOICE là cột mốc đánh dấu một bước ngoặt lớn cho VOICE, cũng như cho sự nghiệp cá nhân của ba người họ.

 

1  Phạm Đoan Trang

 

a. Những ngày đầu sự nghiệp

Phạm Đoan Trang sinh năm 1978 tại Hà Nội. Năm 2001, bà tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội, ngành Kinh tế. Sau khi ra trường, bà làm công việc của một phóng viên.

Năm 2006, bà bắt đầu viết blog. Vào thời điểm hiện tại, các bài viết của bà vẫn được lưu trữ ở địa chỉ phamdoantrang.com. Năm 2009, khi tên bà lần đầu xuất hiện trong một sự vụ liên quan đến các phong trào chính trị và dân sự Việt Nam, bà nổi tiếng trên Internet với tư cách một người viết blog hơn là một nhà báo.

Phạm Đoan Trang

Phạm Đoan Trang

Các bài viết của Đoan Trang trong giai đoạn này được nhiều người đón đọc vì ba lí do. Thứ nhất, trong bài, bà giản lược hóa và đời thường hóa tất cả các vấn đề chính trị vốn phức tạp, căng thẳng và đôi khi nguy hiểm; rồi trình bày chúng bằng một giọng viết bình dân, để chúng trông có vẻ dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn trong mắt số đông độc giả. Thứ hai, trong bài viết của bà, độc giả có thể bắt gặp nhiều đoạn kể chuyện đời tư, và tâm sự thân mật, gần gũi của người trong cuộc, là một yếu tố được công chúng Việt Nam yêu thích. Thứ ba, một mặt, các bài viết của bà cởi mở về mặt chính trị hơn báo chí chính thống, mặt khác, nó lại cung cấp cho độc giả nhiều thông tin có giá trị hơn đa số các blog phi chính thống ở Việt Nam.

 

b. Bị tạm giam vì tham gian in áo phông phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên

Ngày 28 tháng 8 năm 2009, Đoan Trang bất ngờ bị bắt tạm giam để điều tra, vì có cáo buộc rằng bà “vi phạm an ninh quốc gia” (1). Vào thời điểm đó, bà đang làm phóng viên cho chuyên trang Tuần Việt Nam của tờ báo điện tử Vietnamnet. Bà đã có một số bài viết về vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đăng trên trang Tuần Việt Nam. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn BBC, Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn của tờ Vietnamnet khẳng định rằng các bài viết của bà Trang trên Tuần Việt Nam “là bình thường”, và không liên quan đến lí do bà bị bắt. Trước đó, ông Bùi Thanh Hiếu, chủ blog Người Buôn Gió cũng đã bị tạm giam để điều tra. Ngày 2 tháng 9, đến lượt bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, chủ blog Mẹ Nấm, bị bắt. Cả ba người bị bắt đều từng có nhiều bài viết đả kích các chính sách của chính quyền Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trong vụ khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên và trong các tranh chấp trên biển Đông.

Ông Bùi Thanh Hiếu bị tạm giam để thẩm vấn mười ngày, và được thả về vào ngày 5 tháng 9. Bà Trang được thả vào ngày 6 tháng 9. Ngày 12 tháng 9, đến lượt bà Quỳnh được thả về.

Ngày 14 tháng 9, bà Trang đăng lên blog của mình một bài viết cảm ơn những người ủng hộ, có đoạn sau:

“Về nguyên nhân của việc em bị bắt, vào thời điểm này (cho đến khi nào chưa rõ), em không thể nói được vì đã nhận yêu cầu như vậy. Em chỉ có thể khẳng định (như đã khẳng định trước cơ quan điều tra) là em không làm chính trị, không tham gia và không đại diện cho bất kỳ đảng phái, tổ chức nào. Em mong mọi người hiểu cho hoàn cảnh em lúc này và không hỏi gì về vấn đề mà em không thể nói”.

Theo thông tin mà báo chí chính thống cung cấp vào năm 2016 (2), thì vào năm 2009, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị tạm giam do tham gia tổ chức “Người Việt Yêu nước”, được tổ chức này giao phụ trách mảng tài chính, và dùng tiền của đảng Việt Tân cung cấp cho tổ chức này để in áo thun phản đối dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Sau này, khi trao đổi trực tiếp với chúng tôi, cả bà Quỳnh lẫn bà Trang đều khẳng định rằng trong vụ việc đó, họ “đã bị lừa” về nguồn tiền để in áo.

Bùi Thanh Hiếu

Bùi Thanh Hiếu

 

c. Chuyển đến báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 3 năm 2010, bà Trang bỏ mục “Phát ngôn & Hành động Ấn tượng” của Tuần Việt Nam để chuyển sang làm cho tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tâm sự trên blog của mình, bà cho biết lí do như sau (3):

“Tôi nghĩ rằng, một nhà báo, một phóng viên thì nên đi viết hơn là chỉ ngồi tổng hợp các ý kiến rồi bình luận – việc đó không quá khó khăn”.

“Với cá nhân tôi, lựa chọn, bình luận, nhận xét những phát ngôn (chủ yếu của quan chức) trên báo chí hàng tuần chỉ là một hệ quả nhỏ của việc đọc báo. Nói cách khác, nó giống một kiểu bàn luận lúc “trà dư tửu hậu”, mà không còn giống nghiệp vụ làm báo. Vì lẽ đó, tôi muốn ngừng làm các bài Phát ngôn & Hành động để tập trung vào những chủ đề khác, những công việc khác có tính báo chí hơn, cụ thể là cho công việc của một phóng viên ở tờ báo vừa nhận tôi – tờ Pháp luật TP HCM”.

Cấp trên trực tiếp của bà Trang vào thời điểm đó là ông Mai Phan Lợi – người đang giữ chức Phó Tổng Thư ký Tòa soạn, Trưởng Ban Đại diện Miền Bắc của báo Pháp luật TP.HCM. Ông Lợi là một trong những người thành lập Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Phát triển – RED Communication vào tháng 1 năm 2011. Ngày 28 tháng 7 năm 2012, ông Lợi tham gia thành lập Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng (MEC) và giữ quyền giám đốc. Khi viết về ông Lợi vào năm 2016, bà Trang khẳng định rằng “đây là hai NGO (có giấy phép) đầu tiên trong lĩnh vực truyền thông-báo chí ở Việt Nam” (4).

Sau sự thuyên chuyển công tác này, blog Phạm Đoan Trang có sự thay đổi lớn về định hướng nội dung. Ngoài những “entry” có phong cách nhàn đàm quen thuộc, bà Trang bắt đầu đều đăng dần lên blog của mình những bài nghiêm túc mà bà viết cho tờ Pháp luật TP.HCM. Năm 2012, khi ông Trịnh Hữu Long – một cộng sự gắn bó với bà từ khi còn ở trong nước – bắt đầu làm cho tờ Pháp luật TP.HCM, bà cũng đăng cả những bài báo được viết bởi ông Long lên blog nổi tiếng của mình. Từ tháng 6 năm 2012, mỗi khi đăng các bài báo của mình và ông Long lên blog này, bà bắt đầu đính kèm theo một bản dịch tiếng Anh bên dưới. Những bản dịch này chỉ xuất hiện trên blog của bà, chứ không hiện diện trên bất cứ trang mạng nào khác, kể cả báo Pháp luật TP.HCM. Vào thời điểm đó, không có tờ báo chính thống nào của Việt Nam dịch các bài phân tích tình hình chính trị – xã hội trong nước ra ngoại ngữ, và cũng không có trang mạng đối lập nào của Việt Nam cung cấp được những nội dung có giá trị bằng tiếng Anh. Do đó, việc này mang lại cho họ một uy tín và lợi thế ngoại giao lớn khi tiếp xúc với các lực lượng nước ngoài. Nếu không có các biến cố khiến họ gia nhập VOICE vào năm 2013, có thể họ đã hình thành một lực lượng chính trị được xây dựng trên các phóng viên trẻ, viết cho các tờ báo chính thống và có uy tín trên Internet.

 

d. Biên soạn cuốn Thế hệ F

Đầu năm 2011, ở Bắc Phi và Trung Đông xảy ra chuỗi biến cố “Mùa Xuân Arab”. Trong mùa hè năm 2011, bắt đầu từ ngày 5 tháng 6, các tổ chức chính trị đối lập Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình “chống Trung Quốc xâm lược” vào sáng Chủ nhật hằng tuần ở Hà Nội và TP.HCM. Những người biểu tình tuyên bố rằng chuỗi hoạt động của họ nhằm mục đích phản đối “chính sách bá quyền” của Trung Quốc, và “thể hiện lòng yêu nước”. Mỗi cuộc biểu tình thường có vài chục cho đến vài trăm người tham gia. Những người tổ chức đã dùng mạng xã hội Facebook để phát động và quảng bá các cuộc biểu tình, giống như chiến thuật được sử dụng trong “Mùa Xuân Arab”. Sau khi những người biểu tình liên tục họp mặt và trao đổi, họ đã gia tăng nhân số cho các tổ chức đối lập sẵn có, đồng thời hình thành một số tổ chức mới, như các nhóm “No-U”. Bà Trang cũng tham gia chuỗi sự kiện này, và hiện diện liên tục trên truyền thông như một người viết blog nổi tiếng.

Cuối năm 2011, bà Trang cho ra mắt cuốn sách “Thế hệ F”, là một tập hợp các bài viết và comment xoay quanh các cuộc biểu tình trên (5). Vào thời điểm đó, bà không công khai vai trò của mình trong việc biên soạn cuốn sách. Tuy nhiên, từ năm 2015, khi mối quan hệ giữa bà và chính quyền xấu đi, vấn đề này bắt đầu được đề cập đến trong các bài viết công kích bà của hệ thống tuyên giáo.

Lời giới thiệu cuốn sách có đoạn:

“Từ Iran, tới Ukraine, từ Trung Đông tới châu Phi, châu Á, khắp nơi trên thế giới đều có những bằng chứng về sức mạnh của Internet, “quyền lực của thế giới ảo” trong công cuộc nâng cao dân trí, minh bạch hóa, và trên tất cả, dân chủ hóa”.

“Và những biến cố chính trị lớn lao xảy ra đầu năm 2011 tại Ai Cập và Tunisia, phần nào đó là cả Yemen,  Lybia, đã cho thấy rõ ràng hơn bao giờ hết sức mạnh xóa tan bóng tối độc tài của mạng xã hội. “Mùa xuân Arập” sẽ mãi mãi đi vào trong lịch sử như một chiến thắng rực rỡ của “xã hội dân sự” trên mạng, của những blogger, những commentator (mà ở Việt Nam chúng ta, có người dịch là “còm sĩ”); và tóm lại, của những con người yêu mến, khát khao dân chủ, và sử dụng Internet làm công cụ truyền tải khát vọng của họ”.

Trong lời giới thiệu, bà Trang cũng thừa nhận rằng cuốn “Thế hệ F” chỉ là một tập hợp các “entry”, “comment” và “status” chứa đựng “cảm xúc và tâm tư” của những người biểu tình. Tuy nhiên, bất chấp hạn chế đó, bà khẳng định rằng “cuốn sách này thực chất ghi lại một chặng đường lịch sử của Việt Nam”, vì “những gì họ viết là sự thể hiện khát vọng của nhiều thế hệ”. Trong phần sau của lời giới thiệu, bà cho biết “khát vọng” đó là khát vọng dân chủ, tự do.

Theo quan sát của chúng tôi, cuốn sách tập hợp khá nhiều diễn văn, thư từ, bài viết tâm sự và bài bình luận của những người biểu tình. Sách cũng dành hẳn một chương để đăng lại các “status” và “comment” trên Facebook. Tuy nhiên, cuốn sách không bao gồm lời tường thuật khách quan về diễn biến thực tế của các cuộc biểu tình. Trong sách chỉ có một bài tường thuật mang phong cách báo chí, là một bài viết của Thông tấn xã Việt Nam, được đưa vào tuyển tập để “ghi nhận và đưa ra thảo luận” “với tinh thần đa nguyên”, theo giải thích trong lời giới thiệu của cuốn sách. Vì vậy, nếu sớm kết luận rằng cuốn sách “ghi lại một chặng đường lịch sử”, có lẽ sẽ hơi vội vàng.

Các bài viết trong chương ‘Yêu nước’ của cuốn ‘Thế hệ F’

Các bài viết trong chương ‘Yêu nước’ của cuốn ‘Thế hệ F’

 

e. Tham gia Diễn đàn Nhà báo Trẻ

Ngày 15 tháng 1 năm 2012, một nhóm phóng viên và biên tập viên từ nhiều tờ báo cùng nhau thành lập Diễn đàn Nhà báo Trẻ. Theo lời bà Trang viết vào năm 2016, thì đây là “là nhóm Facebook với 12.000 thành viên là các nhà báo có dùng Facebook, có nhiều hoạt động tìm hiểu, trao đổi, chia sẻ về nghiệp vụ báo chí rất sôi nổi, khác hẳn Hội Nhà báo quốc doanh” (4). Vào thời điểm thành lập, diễn đàn này có bảy Admin. Theo nguồn tin riêng của chúng tôi, bà Phạm Đoan Trang không giữ quyền Admin, nhưng tham gia diễn đàn với tư cách cố vấn đặc biệt. Đến tháng 4 năm 2013, sau một cuộc tranh chấp quyền điều hành, diễn đàn chỉ còn lại duy nhất một Admin là ông Mai Phan Lợi.

 

f. Ra mắt cuốn “Và Quyền lực Thứ tư”

Tháng 5 năm 2012, Phạm Đoan Trang cho ra mắt cuốn sách “Và Quyền lực Thứ tư” (6). Đây là một tuyển tập các bài viết của bà Trang trên các báo Pháp luật TP.HCM, Tuần Việt Nam và Nhịp cầu Thế giới. Cuốn sách được in bởi Nhà Xuất bản Giấy vụn – một nhà xuất bản phi chính thống được sáng lập và điều hành từ năm 2002 bởi ông Bùi Chát (tên thật là Bùi Quang Viễn). Các bài viết trong sách không tập trung vào một lĩnh vực cụ thể hoặc thông điệp thống nhất, mà phân tán vào nhiều lĩnh vực khác nhau – bao gồm quyền lực báo chí, quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc, thể chế chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa Hà Nội, và những gương mặt danh nhân trong quá khứ.

 

g. Tham gia ban quản trị trang Nhật ký Yêu nước

Nhật ký Yêu nước là một trang Facebook nổi tiếng trong phong trào đối lập Việt Nam. Trang được tạo năm 2009 bởi một người Mỹ gốc Việt. Ban đầu, Nhật ký Yêu nước chỉ đăng lại các tin tức và bình luận chính trị của các trang mạng khác, và kèm theo đó vài lời bình luận của người đăng. Tuy nhiên, cuối tháng 5 năm 2011, ông Nguyễn Văn Dũng, một thành viên ban quản trị trang này, bắt đầu dùng trang để kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc. Để tạo tính chính danh cho sự kiện, ông Dũng quyết định dùng ngày 5 tháng 6 năm 2011, kỉ niệm 100 năm ngày ông Hồ Chí Minh “ra đi tìm đường cứu nước”, làm thời điểm biểu tình. Trang Nhật ký Yêu nước trở thành đoàn thể đầu tiên tung ra lời kêu gọi biểu tình trong năm 2011, khởi động cho chuỗi sự kiện diễn ra sau đó.

Sau khi lời kêu gọi được đăng lên, số người theo dõi trang bắt đầu tăng vọt. Thêm vào đó, trang cũng thành công trong việc thu hút một lượng đáng kể thanh thiếu niên quan tâm và tham gia sự kiện. Vào thời điểm đó, học sinh, sinh viên Việt Nam dành hầu hết thời gian online của mình cho mạng xã hội Facebook, thay vì cho blog và các website truyền thống như lớp người sinh trước họ chỉ vài năm. Do Nhật ký Yêu nước thuộc số ít các đoàn thể vừa có nhân sự trẻ trong nước, vừa hoạt động một cách hiệu quả trên Facebook trong năm này, nó thành công hơn các đoàn thể cũ trong việc thu hút và điều động giới trẻ.

Từ sau sự kiện đó, trang Nhật ký Yêu nước tiếp tục tham gia phát động và điều phối các cuộc biểu tình ở Việt Nam.

Ngày 5 tháng 9 năm 2012, ông Nguyễn Vũ Hiệp, một quản trị viên, giới thiệu bà Trang tham gia ban quản trị trang Nhật ký Yêu nước. Sau đó, ông Trịnh Hữu Long cũng tham gia từ tháng 7 năm 2013.

Theo những ảnh chụp màn hình mà chính quyền tung ra hồi tháng 1 năm 2014 (7), có thể thấy trong quá trình tham gia quản trị trang Nhật ký Yêu nước, bà Trang và ông Long đã tìm cách thuyết phục các thành viên khác thay đổi định hướng và phong cách truyền thông của trang. Cụ thể, họ đề nghị ba điều:

_ Cải thiện kỹ thuật viết và cách truyền thông

_ Hạn chế đăng tải thông tin liên quan đến những nhân vật được coi là “làm xấu mặt phong trào”, “hằn học và bế tắc”

_ Cung cấp “những kiến giải mới, những cảm xúc tích cực, những sáng kiến, những giải pháp”

Họ khẳng định rằng những sửa đổi này là cần thiết để xây dựng uy tín của Nhật ký Yêu nước.

18

1920

 

h. Gia nhập VOICE

Sáng ngày 9 tháng 12 năm 2012, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội, bà Đoan Trang tham gia một cuộc biểu tình “chống Trung Quốc”. Các nhóm phát động tuyên bố rằng cuộc biểu tình của họ nhằm đáp trả vụ Trung Quốc cắt cáp tàu biển của Việt Nam vào ngày 3 tháng 12, và việc Trung Quốc in mẫu hộ chiếu mới, trên đó có bản đồ khẳng định rằng vùng biển đang tranh chấp với Việt Nam là của Trung Quốc. Theo lời tường thuật của đài BBC Tiếng Việt, “công an tới dẹp đoàn tuần hành”, khiến cuộc biểu tình tan rã chỉ sau khoảng một giờ (8). Bà Trang nằm trong số những người biểu tình bị cảnh sát Việt Nam đưa về tạm giữ tại Trại Phục hồi Nhân phẩm Lộc Hà để lấy lời khai. Trong quá trình lấy lời khai, bà đã ghi âm lại cuộc trao đổi giữa mình với công an, và đăng lên Internet sau đó một ngày (9).

Không lâu sau khi bản ghi âm được tung ra, bà Trang bị báo Pháp luật TP.HCM loại khỏi biên chế của tòa soạn báo.

Động thái này của tòa soạn khiến bà Trang lo ngại rằng mình sắp bị chính quyền bắt. Vào thời điểm đó, VOICE đang tìm học viên cho khóa học “về xã hội dân sự Philippines” sẽ diễn ra vào năm 2013. Khóa này do Asian Bridge Philippines đứng tên tổ chức, VOICE phụ trách tìm người. Họ ưu tiên tìm những học viên trẻ, biết tiếng Anh và có kinh nghiệm hoạt động chính trị – xã hội. Trước năm 2016, VOICE không công khai đăng thông báo tuyển học viên, mà bí mật liên hệ với các tổ chức trong nước để họ cử người đi học. Một trong những người được liên hệ là ông Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị ở Hà Nội. Vào thời điểm đó, ông Đài vừa làm quen với Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và Trịnh Hữu Long qua một group Facebook mang tên Câu lạc bộ Phan Chu Trinh. Theo một cáo buộc của chính quyền vào cuối năm 2013, group này do ông Nguyễn Vũ Hiệp, thành viên Tập hợp Dân chủ Đa nguyên lập ra để thúc đẩy việc “móc nối” các cá nhân và hội đoàn, đồng thời giúp tổ chức của mình tuyên truyền và khai thác thông tin trong quá trình đó. Sau khi được ông Đài cung cấp thông tin về khóa học của VOICE qua sinh hoạt của Câu lạc bộ Phan Chu Trinh, bà Trang đăng ký theo học để có cơ hội tạm lánh ra nước ngoài cho đến khi tình hình lắng xuống. Khi đó, Phạm Đoan Trang, Trịnh Hữu Long và Nguyễn Anh Tuấn đang cùng làm việc như một ekip gắn bó. Mặt khác, cả hai ông Long và Tuấn đều muốn có cơ hội thực tập trong các NGO chuyên hỗ trợ nông dân trong các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai ở Philippines – điều mà VOICE sẵn sàng cung cấp. Vì vậy, họ quyết định rằng cả ba người sẽ tham gia khóa học của VOICE.

Ngày 12 tháng 1 năm 2013, bà Trang xuất cảnh đi Thái Lan, trước khi từ Thái Lan đi Philippines. Không lâu sau đó, hai ông Long và Tuấn cũng xuất cảnh.

 

2. Trịnh Hữu Long

 

a. Biểu tình “chống Trung Quốc”

Trịnh Hữu Long sinh năm 1986 tại Thanh Hóa. Năm 2008, ông tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, chuyên ngành Luật Kinh tế. Từ khi ra trường đến năm 2011, ông làm nhân viên tư vấn pháp lí tại VCCorp (2008 – 2010), làm tư vấn pháp lí tại chỗ cho công ty bảo hiểm Bảo Việt (2009 – 2011), làm điều phối viên PR cho công ty tài chính HANDICO (2010 – 2011).

Tháng 1 năm 2014, trong một bài viết tâm sự mang tên “Giọt nước mắt của những người tiên phong”, ông Long cho biết mối quan tâm chính trị đầu tiên của ông đến từ “chuyện Hoàng Sa và một phần Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm” (10). Ông kể:

“Mãi cho đến năm 2008-2009, lần đầu tiên mình thấy vấn đề này được xới lại trên phương tiện chính thống qua một loạt bài báo của nhà báo Đoan Trang, khi đó còn là phóng viên của báo VietNamNet. Loạt bài có tính hiện tượng đó thức tỉnh trở lại ý thức của mình và có lẽ là rất nhiều người khi đó về những hòn đảo đã mất. Và cũng kể từ đó, tuyến đề tài về biển đảo trở lại trên các sạp báo. Cái giá mà nhà báo Đoan Trang phải trả cho việc này là 9 ngày tù, bị đuổi việc, bị đồng nghiệp cô lập, bị công an sách nhiễu liên tục và rơi vào hoản cảnh vật chất thê thảm”.

(Quan điểm của ông Long không trùng khớp với các tuyên bố của tòa soạn Vietnamnet và phía chính quyền. Nhắc lại, vào thời điểm vụ “9 ngày tù” diễn ra, Tổng Biên tập Nguyễn Anh Tuấn của Vietnamnet khẳng định với BBC rằng “các bài viết của Đoan Trang trên Vietnamnet là bình thường”, không liên quan đến lí do cô bị bắt (1). Phía chính quyền giải thích rằng họ tạm giam Đoan Trang 9 ngày để điều tra việc cô cùng hai cây bút khác, là bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và ông Bùi Thanh Hiếu, dùng “tiền của Việt Tân” để in áo phông phản đối dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Tuyên bố của Vietnamnet và chính quyền nhìn chung trùng khớp với diễn biến của vụ bắt giữ, và với tuyên bố của những người bị bắt sau vụ việc.)

21

Các cuộc biểu tình “chống Trung Quốc” diễn ra hằng tuần, bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 2011, mang đến một bước ngoặt lớn cho sự nghiệp của Trịnh Hữu Long. “Hơn hai ngày” sau khi tham gia cuộc biểu tình đầu tiên, ông đăng lên blog của mình bài viết “Tản mạn về lòng yêu nước”. Trong bài, ông thể hiện sự bức xúc khi bị gọi là “phản động” chỉ vì đi biểu tình. Bài kết thúc bằng câu hỏi:

“Chúng tôi chấp nhận rước lấy những hiểm nguy cho bản thân mình, bỏ một buổi sáng đi bộ đến kiệt sức để xuống đường nói lên tiếng nói yêu nước, chẳng nhẽ để nhận về những lời mỉa mai như vậy hay sao?

Chúng tôi có phán xét lòng yêu nước của ai đâu, sao các bạn lại phán xét chúng tôi?”

Trong bài viết tiếp theo, mang tên “Vì sao tôi đi biểu tình”, ông Long thuật lại diễn biến tâm lí của ông từ khi nhận được lời kêu gọi biểu tình qua tin nhắn. Theo lời kể, ông lập tức muốn tham gia, nhưng sau đó lại cảm thấy sợ hãi. Ông sợ “bị bắt”, bị “dè bỉu” là “phản động”, và bị cơ quan an ninh can thiệp vào cuộc sống cá nhân. Tuy nhiên, sau khi trải qua một quá trình “giằng xé”  nội tâm, Long “cảm thấy nhục nhã”, vì nhận ra trong ông “có hai chữ hèn nhát”. Theo quan điểm của Long, nếu ông “nhiều năm câm lặng trước hiểm họa mất nước vào tay kẻ thù” và “đắn đo suy nghĩ” khi cần “nói lên tiếng nói yêu nước”, ông đang “mặc cả với chính Tổ quốc của mình”. Ông sợ rằng nếu làm những điều trên, ông sẽ bị những người xung quanh và con cái sau này coi là “hèn nhát”.

Cuối bài, ông Long tâm sự:

“Hậu thế sẽ phán xét tôi thế nào đây? Lịch sử nào có ở đâu xa, việc chúng ta làm hôm nay, ngày mai nó đã thành lịch sử. Mỗi việc làm của chúng ta đều sẽ được lịch sử ghi lại và phán xét.

Tôi sợ tất cả những điều đó hơn là cái con ngáo ộp đang đe dọa tôi. Trong vô vàn những giải pháp để thoát khỏi sự hèn nhát, tôi lựa chọn giải pháp đi biểu tình”.

Tháng 7 năm 2011, ông Long viết bài “Khi lịch sử đã chạm tên từng người”. Long dùng bài này để bình phẩm về cuộc phỏng vấn giáo sư Nguyễn Thế Sự, cựu Trưởng khoa Tiếng Trung của Đại học Hà Nội, được đăng trên một tờ báo Trung Quốc. Theo tờ Tề Lỗ Vãn báo, khi trả lời phỏng vấn, ông Sự đã nói “Thanh niên biểu tình chống Trung Quốc là do bị kích động bởi thế lực phản động hải ngoại”. Long gọi đây là “những lời lẽ vuốt ve quân xâm lược”, và cho rằng nó đã khiến những người biểu tình “tím tái vì nhục nhã”. Sau khi thuật lại việc ông Sự vội vàng phủ nhận cuộc phỏng vấn, và tuyên bố ông “bị lợi dụng” bởi báo Trung Quốc, Long cho biết vụ việc này khiến ông “phải suy nghĩ về những cái chạm tay của lịch sử đến họ tên của từng người”. Ông bình phẩm như sau:

“Một Giáo sư, nguyên Trưởng khoa tiếng Trung của một Đại học danh tiếng bậc nhất như ĐH Hà Nội, lúc về hưu tưởng chừng như đã trọn vẹn một đời công danh, tiếng thơm xa gần, con cháu đời đời hưởng phúc. Thế rồi bỗng một ngày nọ, không biết vì lỡ lời hay cố ý buông những lời lẽ bán nước, hoặc cũng có thể bị gã phóng viên họ Tàu tên Khựa kia phỉnh lừa, mà đã vĩnh viễn đóng đinh tên tuổi của mình vào một trong những trang nhơ nhuốc nhất của lịch sử, bất kể ông có thanh minh gì đi chăng nữa”.

Cuối bài, ông Long mượn chuyện ông Sự để cảnh cáo cơ quan an ninh Việt Nam:

“Nếu lực lượng an ninh đã tổ chức ghi hình đoàn biểu tình để phục vụ cho công tác nghiệp vụ, thì những nhiếp ảnh gia nhân dân cũng đã ghi lại đầy đủ hình ảnh của họ, chờ lịch sử phán xét.

Bài học của ông Nguyễn Thế Sự hãy vẫn còn nóng hổi để những ai đang có ý định làm trái với lợi ích của dân tộc phải cảnh tỉnh, trước hết là vì vết nhơ ngàn năm của chính bản thân họ.

Nên nhớ rằng, 726 năm đã trôi qua, cả dân tộc này vẫn réo tên Trần Ích Tắc lên mà chửi rủa.

Và họ sẽ còn chửi rủa trong hàng triệu năm nữa”.

Theo ghi chú trên blog Nguyễn Xuân Diện, cho đến thời điểm viết bài này, ông Long đã tham gia ba cuộc biểu tình.

Ba bài viết nêu trên đều được đăng trên trang Facebook và blog cá nhân của ông Long, trước khi được lưu lại trong cuốn “Thế hệ F” của bà Đoan Trang và một số blog khác. Hiện nay, link của các bài gốc đều không còn truy cập được. Trên trang blog.trinhhuulong.com, mọi bài đăng trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011, nếu có, đều không còn được lưu. Trên blog này, có 25 bài đăng trước thời điểm đó mà hiện nay vẫn được lưu. Trong số này, có một lá thư gửi ba người cháu của ông ở quê, một bài viết viếng nhà thơ Tế Hanh, và một bài thơ tự làm nhân ngày Trung Thu, cả ba đều không chứa nội dung liên quan đến chính trị. Cả 22 bài đăng còn lại đều là thơ Việt Nam, không liên quan đến chính trị, do ông sưu tầm từ các tác giả khác. Trong đó, có 16 bài được đăng trong ngày 20 tháng 1 năm 2009, và 6 bài được đăng trong ngày 28 tháng 1 năm 2009, thời điểm đăng mỗi bài trong số này chỉ cách nhau vài phút.

Trong khoảng thời gian “bị xóa” này, ông ngừng làm việc cho Bảo Việt và HANDICO, có thể do tác động từ phía chính quyền.

 

b. Đến với nghề báo

Ngày 7 tháng 12 năm 2011, ông có “bài đầu tiên đăng trên một tờ báo” (14). Đó là một bài viết cho Nhịp cầu Thế giới, một tạp chí của cộng đồng người Việt ở Ba Lan. Gần một tuần sau, ngày 13 tháng 12, ông có bài đăng trên tờ Tia Sáng – tạp chí của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Cần lưu ý rằng trước đó, tờ Tia Sáng bản điện tử từng bị đình bản vào ngày 27 tháng 10 năm 2009. Quyết định đình bản này được cho là liên quan đến vụ “tự giải thể” Viện Nghiên cứu Phát triển IDS – một viện có ông Chu Hảo, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ trong ban lãnh đạo – vào ngày 14 tháng 9 năm 2009. Tờ Tia Sáng bản điện tử trở lại hoạt động vào tháng 1 năm 2011. Tháng 6 cùng năm, ông Nguyễn Quang A – cựu Viện trưởng Viện IDS – khai sinh biểu tượng “No-U” (nói Không với đường hình chữ U của Trung Quốc trên biển Đông) (15). Đến mùa thu, “No-U” được chọn làm biểu tượng và tên gọi cho một mạng lưới liên kết những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Đến tháng 8, ông Quang A và ông Chu Hảo trở thành người diện cho phong trào biểu tình trong các cuộc đối thoại chính thức với chính quyền (16). Trong buổi đối thoại này, một trong những người đi cùng ông A và ông Hảo là ông Nguyễn Xuân Diện. Ông Diện có bằng Tiến sĩ Hán – Nôm, và là người thường xuyên đưa tin về diễn biến của các cuộc biểu tình trên blog. Ngày 22 tháng 7, ông Long gửi một bài viết của mình cho ông Diện, dù các bài trước đó của ông Long đều được đăng trên trang Facebook và blog cá nhân (17). Có thể từ mối quen biết này, ông Long đã dần mở rộng quan hệ với các cựu thành viên của Viện IDS, trước khi được giới thiệu vào làm cho tờ Tia Sáng vào cuối năm đó.

Trịnh Hữu Long mặc áo phông có biểu tượng No-U trong cuộc biểu tình ngày 16 tháng 5 năm 2014 ở Philippines

Trịnh Hữu Long mặc áo phông có biểu tượng No-U trong cuộc biểu tình ngày 16 tháng 5 năm 2014 ở Philippines

Trong một thư tòa soạn của trang Luật khoa Tạp chí, mà ông viết hồi cuối năm 2016 (18), ông Long cho biết:

“Tham gia phong trào biểu tình năm đó, dù hứng chịu nhiều chỉ trích và áp lực, tôi lại gặp được một người mà sau này đã dẫn dắt tôi vào nghề báo và trở thành đồng sáng lập viên của Luật Khoa tạp chí: nhà báo Phạm Đoan Trang”.

Các bài nghiêm túc mà ông Long viết cho tờ Tia Sáng thường được ông đăng lại trên blog của mình ngay trong ngày, theo cùng một công thức xây dựng hình ảnh mà bà Trang bắt đầu áp dụng từ khi chuyển sang làm cho báo Pháp luật TP.HCM. Từ đầu năm 2012, blog Phạm Đoan Trang cũng bắt đầu đăng lại những bài mà ông Long viết cho Tia Sáng và các tờ báo khác.

Ngày 20 tháng 12 năm 2011, Tia Sáng đăng bài “Bức tranh đa sắc của truyền thông Việt Nam trong năm 2011” (19), ký tên Trịnh Hữu Long. Đây là bài tổng kết các xu hướng của truyền thông Việt Nam trong năm.

Ngày 16 tháng 2 năm 2012, Tia Sáng đăng một bài phỏng vấn ông Nguyễn Quang A, mang tên “Tích tụ đất đai – không còn là lúc để lo ngại” (20). Mối quan tâm mà ông Long dành cho vấn đề quyền tư hữu đất, mà sau này ông nhiều lần thể hiện, có lẽ đã khởi phát từ cột mốc này.

Ngày 22 tháng 2 năm 2012, Tia Sáng đăng bài “Vấn đề lập pháp nhìn từ pháp luật đất đai” của ông Trịnh Hữu Long (21). Hầu hết các ý kiến trong bài được đưa ra từ phát biểu của ông Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ tịch Văn phòng Quốc hội vào thời điểm đó. Trong bài, ông Long chủ yếu trích dẫn các văn bản luật để minh họa những ý kiến mà ông Dũng đưa ra. Bài viết không cho biết ông Dũng phát biểu trong hoàn cảnh nào, và hiện nay, đây là văn bản duy nhất trên Internet có chứa những phát biểu này của ông Dũng. Vào thời điểm hiện tại, tên tác giả Trịnh Hữu Long đã bị gỡ khỏi bài gốc trên trang Tia Sáng, nhưng vẫn còn lưu trên các bài đăng lại trên Internet.

Ngày 22 tháng 4 năm 2012, ông Long có bài đầu tiên trên tờ Pháp luật TP.HCM. Bài xoay quanh vấn đề quản lí Internet. Trong bài, ông Long thực hiện phỏng vấn, còn bà Phạm Đoan Trang viết lời bình (22).

 

c. Những khẩu hiệu mới

Ngày 24 tháng 4 năm 2012, chính quyền huy động “hàng ngàn công an” (23) để “cưỡng chế, thu hồi quyền sử dụng đất” của các hộ nông dân ở Văn Giang, Hưng Yên. Do bất đồng về số tiền đền bù từ nhiều năm, phía nông dân từ chối bàn giao đất, và liên kết với nhau để chống trả bằng vũ lực. Ngày 12 tháng 5 năm 2012, báo Nhịp cầu Thế giới đăng bài “Nhà nước pháp quyền qua lăng kính Văn Giang” của Trịnh Hữu Long. Mối quan tâm chính của ông Long trong toàn bộ bài viết có thể được thể hiện qua những đoạn trích sau:

“Hiến pháp – đạo luật gốc – là căn cứ cao nhất để xem xét tính chất pháp lý của quyết định này.

Ở Việt Nam, đại đa số người dân chưa có thói quen viện dẫn đến Hiến pháp để xác định tính chất pháp lý của một vấn đề. Với tư cách là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, Hiến pháp chi phối mọi nội dung và thể thức của toàn bộ hệ thống pháp luật. Người dân vẫn chỉ quan tâm đến tính hợp pháp (hiểu theo nghĩa là tính phù hợp với văn bản luật), chứ chưa có nhiều khái niệm về tính hợp hiến của vấn đề”.

“Rõ ràng, nếu chúng ta có một cơ chế bảo hiến hiệu quả, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ gặp rắc rối lớn với Tòa án Hiến pháp khi cưỡng chế thu hồi đất của nông dân Văn Giang với mức giá bị cho là rẻ mạt và giao cho chủ đầu tư kinh doanh”.

“Việc thu hồi đất ở Văn Giang nêu trên chỉ là dấu hiệu vi hiến của một hành vi, nhưng sâu xa hơn là dấu hiệu vi hiến của một đạo luật quan trọng”.

Kể từ cột mốc này, “Hiến pháp” trở thành đối tượng quen thuộc mà ông Long, cùng các cộng sự của ông trong Luật khoa Tạp chí về sau, thường xuyên viện dẫn.

Các biến cố liên tiếp xoay quanh vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất ở Việt Nam trong năm 2012 đã tác động nhiều, làm ông Long thay đổi quan điểm chính trị.  Ngày 27 tháng 4 năm 2013, không lâu sau khi xuất cảnh, ông Long đăng bài “Nhân quyền và Chủ quyền, cái nào cao hơn” lên blog cá nhân (24). Trong bài, ông đặt câu hỏi:

“Thông điệp của người phụ nữ được cho là ở An Giang này đặt ra cho chúng ta một trong những câu hỏi căn bản nhất của loài người: chủ quyền cao hơn hay nhân quyền cao hơn? Cụ thể trong trường hợp này, khi buộc phải lựa chọn giữa việc đất nước bị xâm lược nhưng giữ được tài sản, với việc độc lập nhưng tài sản bị chính đồng bào cướp mất, chúng ta sẽ chọn giải pháp nào?

Xa hơn nữa, giả sử bị xâm lược nhưng các quyền con người cơ bản (quyền tư hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, lập hội, tôn giáo, biểu tình,…) được đảm bảo, so với việc độc lập nhưng người dân bị chính quyền tước đoạt hết các quyền con người, cái nào tốt hơn?”

Sau khi lấy hai chính quyền ở miền Nam và miền Bắc trong chiến tranh Việt Nam làm ví dụ, ông Long kết luận:

“Sớm hay muộn, Việt Nam cũng phải lựa chọn một bến đỗ bên cạnh một cường quốc để tìm kiếm sự yên ổn và thịnh vượng”.

Cuối bài, ông Long nêu một trường hợp cụ thể để minh họa:

“Puerto Rico có thể là một tham chiếu tốt để tìm hiểu vấn đề này. Họ vốn là thuộc địa và giờ đây gần như là bang thứ 51 của Mỹ. Người đứng đầu nhà nước Puerto Rico hiện nay là Tổng thống Mỹ Barack Obama. Ở vùng lãnh thổ này luôn tồn tại 3 xu hướng chính trị: hoặc là giữ nguyên tình trạng “nửa độc lập” hiện nay, hoặc là trở thành một quốc gia độc lập, hoặc là trở thành một tiểu bang chính thức của Hoa Kỳ. Ba cuộc trưng cầu dân ý từ năm 1967 đến nay đều đưa đến sự thắng thế của xu hướng “nửa độc lập”. Cuộc trưng cầu dân ý thứ tư năm 2012 tiếp tục bác bỏ xu hướng “độc lập”, mà lựa chọn xu hướng sáp nhập vào Hoa Kỳ”.

Ngoài những tranh luận về quyền tư hữu đất khởi đầu từ bài phỏng vấn ông Quang A và biến cố Văn Giang, mối quan tâm mà ông Long dành cho vấn đề nhân quyền có thể còn đến từ việc tiếp thu một luồng ảnh hưởng song song khác. Ngày 4 tháng 6 năm 2012, ông Lê Thăng Long – người bị bắt cùng Nguyễn Tiến Trung,